Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ năm, ngày 21 tháng 06 năm 2018 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

THÔNG TIN CƠ BẢN VỀ NHẬT BẢN VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - NHẬT BẢN


1. Thông tin về Nhật Bản

Tài liệu cơ bản về Nhật Bản

I. Thông tin về Nhật Bản

- Dân số: 127,3 triệu  (01/4/2010) (Nguồn: Tổng cụcThống kê và Bộ Y tế Nhật Bản)

- Một số lãnh đạo chủ chốt:

·        Thủ tướng: KAN Naoto (từ 4/6/2010)

·        Chủ tịch Hạ viện: Yokomichi Takahiro (Đảng Dân chủ) từ 9/2009

·        Chủ tịch Thượng viện: Eda Satsuki (Đảng Dân chủ) từ 8/2007

·        Ngoại trưởng: Okada Katsuya (Đảng Dân chủ) (bổ nhiệm lại 8/6/2010)

- Đơn vị tiền tệ: Yên-Tỷ giá: 90 Yên/USD (24/6/2010)

1.     Chế độ chính trị

Theo Hiến pháp năm 1947, Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến kiểu Anh, trong đó:

-         Nhà Vua là nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại.

-         Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập

-         Chính phủ hiện nay là chính phủ liên hiệp giữa Đảng Dân chủ (DPJ) và Tân đảng quốc dân (PNP)  

Tên đảng phái

 

Số ghế tại Hạ viện

(đến 12/2009)

Dân chủ (DPJ)

311

Dân chủ Tự do (LDP)

119

Dân chủ Xã Hội (SDP)

07

Tân đảng Quốc dân (PNP)

03

Công Minh (NK)

21

Cộng sản (JCP)

09

Không đảng phái

05

đảng của mọi người (YP)

05

Tổng

480

 

Tên đảng phái

 

Số ghế tại Thượng viện

(đến 12/2009)

Dân chủ

120

Dân chủ Tự do

85

Công Minh

21

Cộng sản

07

Dân chủ Xã Hội

05

Không đảng phái

04

Tổng

242

(Nguồn: Trang Web Hạ viện và Thượng viện Nhật Bản)

 

2. Kinh tế:

Là quốc gia nghèo tài nguyên, dân số đông, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh. Nhờ có các chính sách phù hợp, kinh tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973). Từ năm 1974 đến nay, tốc độ phát triển kinh tế chậm lại, sau sự sụp đổ của nền kinh tế bong bóng đầu những năm 90, kinh tế Nhật lại rơi vào cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á cuối những năm 90 và cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ toàn cầu hiện nay (2008-2009). Sau khi chính quyền chuyển giao từ LDP sang DPJ tháng 9/2009, Chính phủ của Thủ tướng Hatoyama tập trung vào cải tổ cơ bản thể chế kinh tế, giảm thiểu chi phí công thừa, điều chỉnh ngân sách, tập trung nguồn lực để thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội lớn như miễn phí đường cao tốc, trợ cấp trẻ em, miễn phí học phổ thông,… Từ quý II/2009, kinh tế Nhật Bản đã từng bước hồi phục, tăng trưởng dương sau 5 quý liên tiếp tăng trưởng âm. Dù gặp nhiều khó khăn, Nhật Bản vẫn là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới với ưu thế về công nghệ tiên tiến; nguồn vốn dồi dào; lực lượng lao động cần cù tay nghề cao; đội ngũ tri thức đông đảo được đầu tư lớn.

- Một số số liệu về kinh tế Nhật Bản:

·        Tổng sản phẩm quốc dân (GDP): năm 2008: 4,899 tỷ USD (năm tài khoá kết thúc vào 31/3/2009).(Nguồn: UN, National Accounts Main Aggregates Database)

·        Dự trữ ngoại tệ tính đến tháng 8/2009: 1.042 tỷ USD (Nguồn: http://www.nikkei.co.jp)

·        Xuất khẩu năm 2009: 580,79 tỷ USD (giảm 25,2% so với 2008);

Nhập khẩu năm 2009: 756,08 tỷ USD (giảm 27% so với 2008);

·        Xuất khẩu quý I/2010: 177 tỷ USD (tăng 46,4% so với cùng kỳ 2009);

Nhập khẩu quý I/2010:158,6 tỷ USD (tăng 21,1% so với cùng kỳ 2009) (Nguồn: http://www.jetro.go.jp)

·        Tỷ lệ thất nghiệp: tháng 8/2009 là 5,5% (Nguồn:People's Daily Online trích thống kê Bộ Tổng vụ Nhật Bản)

 

2. Quan hệ Việt Nam - Nhật Bản 

 

- Ngày thiết lập quan hệ ngoại giao: 21/9/1973

- Sau năm 1975, hai bên trao đổi Đại sứ quán; ký thoả thuận về việc Chính phủ Nhật Bản bồi thường chiến tranh với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam 13,5 tỷ Yên (khoảng 49 triệu USD).

- Giai đoạn 1979-1990: Do vấn đề Campuchia, Nhật Bản đông kết các khoản viện trợ đã thoả thuận, lấy vấn đề rút quân Việt Nam khỏi Cămpuchia là điều kiện cho việc mở lại viện trợ; phối hợp với Hoa Kỳ và Phương Tây ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB, ADB…) cung cấp tài chính cho Việt Nam. Quan hệ chính trị rất hạn chế.

- Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Từ đó đến nay, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, giao lưu văn hoá… được mở rộng; sự hiểu biết và tin cậy giữa hai nước từng bước được tăng lên. Cụ thể:

1. Về chính trị :

- Hàng năm, hai nước đều có các cuộc gặp cấp cao. Lãnh đạo Nhật Bản thăm Việt Nam: các Thủ tướng Murayama (8/1994), Hashimoto (1/1997), Obuchi (12/1998), Koizumi (4/2002). Tháng 10/2004,Thủ tướng Koizumi dự Hội nghị Cấp cao ASEM 5 tại Hà Nội, Thủ tướng Abe thăm Việt Nam dự Cấp cao APEC (11/2006). Hoàng tử Nhật Bản Akishino thăm Việt Nam (6/1999), Hoàng Thái tử Nhật Bản Naruhito (2/2009).

Lãnh đạo Việt Nam thăm Nhật Bản: Tổng Bí thư Đỗ Mười (năm 1995), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh (10/2002), Thủ tướng Võ Văn Kiệt (4/1993), Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức năm 1999 và sau đó thăm làm việc 2001, 4/2003, 12/2003, 6/2004 và ghé thăm tháng 7/2005. Tháng 10/2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nhật Bản; thăm và làm việc 5/2009, 11/2009. Tháng 11/2007, lần đầu tiên trong lịch sử quan hệ Việt-Nhật, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm Nhật Bản cấp nhà nước. Tháng 3/2008, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng đã thăm chính thức Nhật Bản. Tháng 9/2008, Uỷ viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, Chủ tịch Nhóm nghị sỹ hữu nghị Việt-Nhật Hồ Đức Việt thăm Nhật Bản, tham dự "Tuần lễ Việt Nam 2008 tại Nhật Bản". Tháng 4/2009, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm chính thức Nhật Bản.

- Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhất trí xây dựng quan hệ Việt Nam - Nhật Bản theo phương châm “đối tác tin cậy, ổn định lâu dài”. Trong chuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên bố chung “Vươn tới tầm cao mới của quan hệ đối tác bền vững”. Tháng 10/2006, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Nhật Bản mở ra một giai đoạn mới “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”. Tiếp đó, trong chuyến thăm Nhật Bản cấp nhà nước 11/2007, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết và Thủ tướng Yasuo Fukuda ký Tuyên bố chung “Làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật Bản” và “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược”. Trong chuyến thăm chính thức Nhật Bản 4/2009, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Aso Taro nhất trí ra "Tuyên bố chung về quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Nhật Bản vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á".

- Hai bên đã trao đổi Tuỳ viên quân sự, mở Tổng Lãnh sự quán Nhật Bản tại Thành phố Hồ Chí Minh; Tổng Lãnh sự quán Việt Nam tại Osaka (3/1997) và Fukuoka (tháng 4/2009). Tháng 5/2007, hai bên thành lập Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch, đến nay đã họp 3 phiên ( 5/2007 và 1/2010  tại Tokyo; 7/2008 tại Hà Nội).

- Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OEDC giúp Việt Nam về kỹ thuật...); Hai bên ủng hộ lẫn nhau tại các diễn đàn quốc tế quan trọng, trong đó có Liên Hợp Quốc (LHQ).

2. Quan hệ kinh tế: Nhật Bản là một trong những đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam.

- Mậu dịch: Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ 1999. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là thuỷ sản, dệt may, dầu thô, cáp điện, than đá, đồ gỗ… Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; vải các loại; linh kiện ôtô; nguyên liệu dệt, da…

Kim ngạch mậu dịch Việt Nam - Nhật Bản

(Đơn vị: tỷ USD)

 

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

Xuất -> Nhật

2,438

2,909

3,502

4,411

5,232

6,069

8,538

6,29

Nhập <- Nhật

2,509

2,993

3,552

4,092

4,700

6,177

8,241

7,47

Cán cân mậu dịch

-71

-84

-50

319

532

-108

297

-118

Tổng kim ngạch

4,94

5,90

7,05

8,50

9,93

12,24

16,79

13,76

Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam, Website Bộ Ngoại giao Nhật Bản

- Về thương mại: Quý I/2010, kim ngạch thương mại hai nước đạt 3,52 tỷ USD. Năm 2008, đạt 16,78 tỷ USD (vượt mục tiêu đạt 15 tỷ vào năm 2010 nêu trong Tuyên bố chung Việt-Nhật (10/2006); năm 2009 giảm xuống mức 13,76 tỷ USD do chịu tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới (Nguồn: Tổng cục Hải quan Việt Nam).

- Về Đầu tư trực tiếp FDI Nhật Bản vào Việt Nam, tính đến 20/4/2010, Nhật Bản có 1.211 dự án đầu tư trực tiếp còn hiệu lực tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư đăng ký 19,34 tỷ USD, đứng thứ 3/84 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư tại Việt Nam, sau Đài Loan, Hàn Quốc. Riêng năm 2010, tính đến ngày 20/5/2010, có 34 dự án mới với tổng số vốn 1,1 tỷ USD, đứng thứ 3 sau Hà Lan, Hàn Quốc  trong số 36 quốc gia  (Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài-Bộ KH&ĐT).

- Từ tháng 6/2008, hai bên đã bắt đầu thực hiện giai đoạn III Sáng kiến chung Việt - Nhật nhằm cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam, hỗ trợ thúc đẩy tam giác phát triển và hành lang Đông - Tây cũng như hợp tác trong GMS, nghiên cứu giúp giải quyết vấn đề ùn tắc giao thông ở Hà nội và TP. Hồ Chí Minh...

- Viện trợ phát triển chính thức ODA: Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam. Từ năm 1992 đến nay, Nhật Bản đã cam kết khoảng 16 tỷ USD ODA cho Việt Nam, trong đó tài khóa 2009 (khoản vay Yên) đạt 145,613 tỷ Yên cao nhất từ trước đến nay, tỷ lệ giải ngân : 13,8%.

Hai nước đã ký kết Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật (VJEPA) ngày 25/12/2008, có hiệu lực từ ngày 1/10/2009. Cùng với Hiệp định đối tác toàn diện Nhật-ASEAN, VJEPA  tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước.

Hai bên lập Diễn đàn trao đổi thông tin về quy chế kinh tế thị trường tại Việt Nam, đã họp lần đầu tiên nhân cuộc họp Uỷ ban Hợp tác Việt-Nhật lần thứ 3 tại Tokyo (1/2010).

Viện trợ phát triển chính thức ODA của Nhật Bản cho Việt Nam

Đơn vị: Tỷ Yên

Năm

2002

2003

2004

2005

2006

2007

2008

2009

Khoản vay Yên

79,33

79,33

82

90,82

95,07

97,85

83,2

145,61

Viện trợ không hoàn lại

5,23

5,65

4,91

4,46

3,09

2,11

2,66

3,28

Hợp tác kỹ thuật

6,7

5,57

5,71

5,66

5,27

5,19

5,96

 5

(Nguồn : Website Bộ Ngoại giao Nhật Bản)

3. Về hợp tác lao động :

Nhật Bản là một thị trường tiềm năng cho lao động Việt Nam. Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử khoảng 31.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản. Năm 2004, Việt Nam đã lập Văn phòng quản lý lao động tại Tokyo. Năm 2009, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, số lượng tu nghiệp sinh và lao động Việt Nam sang làm việc tại Nhật Bản chỉ đạt khoảng 6.150 người (giảm 7,8% so với năm 2008).

4. Về văn hoá - giáo dục:

- Về văn hoá thông tin: Nhật Bản có nhiều dự án giúp Việt Nam nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo các ngôi nhà ở dân gian truyền thống tiêu biểu ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. Hai bên đã lập Ủy ban chuyên gia Việt-Nhật về bảo tồn Hoàng thành Thăng Long và họp phiên đầu tiên (3/2007). Hai bên cũng đã cử nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật, tham dự triển lãm, liên hoan phim, tổ chức Lễ hội tại mỗi nước. Nhật Bản đã thành lập Trung tâm giao lưu Văn hóa Nhật Bản tại Việt Nam (3/2008).

- Về giáo dục đào tạo: Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triển dưới nhiều hình thức: hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học, giữa các tổ chức, giữa các cá nhân. Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục và đào tạo của Việt Nam. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (3/2008), hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến sỹ cho Việt Nam đến năm 2020 và tiếp tục tăng học bổng cho Việt Nam trong 3 năm tới.

- Việt Nam cũng đã mời nhiều giáo sư, chuyên gia Nhật Bản sang giảng dạy, tiếp nhận các học giả Nhật Bản sang tìm hiểu về văn hoá, lịch sử Việt Nam. Với sự trợ giúp của chính phủ Nhật Bản, Việt Nam đang thí điểm dạy tiếng Nhật tại một số trường phổ thông cơ sở tại các thành phố lớn như: Hà Nội, TP.HCM, Huế và Đà Nẵng. Nhật Bản đang triển khai kế hoạch mời 2.000 thanh niên Việt Nam sang Nhật Bản trong 5 năm, theo nhiều chương trình trong đó bao gồm cả chương trình dành cho học sinh cấp 2 và cấp 3.

6. Về du lịch :

- Nhật Bản luôn nằm trong số 5 nước có lượng khách du lịch lớn nhất đến Việt Nam, số khách du lịch Nhật Bản chiếm gần 10% tổng lượng khách vào Việt Nam. Hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác du lịch Việt - Nhật (4/2005) tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam. Năm 2009, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, lượng khách du lịch Nhật Bản sang Việt Nam đạt 359.231 lượt khách (giảm 8,6% so với năm 2008).

- Từ tháng 1/1/2004, Việt Nam đã chính thức đơn phương miễn thị thực cho người Nhật Bản đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và từ 1/7/2004, quyết định miễn thị thực nhập cảnh ngắn hạn cho mọi công dân mang hộ chiếu Nhật Bản. Ngày 8/3/2005, hai bên đã trao đổi Công hàm miễn thị thực nhập cảnh cho công dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản mang Hộ chiếu ngoại giao và công vụ trong thời hạn lưu trú không quá 90 ngày bắt đầu thực hiện từ 1/5/2005.

Các Hiệp định đã ký giữa hai nước:

Các Hiệp định vay ODA hàng năm (từ 1992)

Hiệp định Hàng không (5/1994)

Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (9/1995)

Hiệp định hợp tác kỹ thuật (10/1998) 

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (12/2004)

Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ (8/2006)

Hiệp định đối tác kinh tế Việt-Nhật VJEPA (25/12/2008).

 

Một số thoả thuận khác:

Biên bản về hợp tác trong lĩnh vực pháp luật (10/1996).

Sáng kiến chung Việt - Nhật về cải thiện môi trường đầu tư tại Việt Nam (11/2003), giai đoạn hai (7/2006), giai đoạn 3 (6/2008).

Tuyên bố chung giữa hai Bộ trưởng Ngoại giao “vươn tới tầm cao mới của mối quan hệ đối tác bền vững” 7/2004.

Tuyên bố chung về hợp tác IT Việt Nam-Nhật Bản (6/2004).

Thoả thuận hợp tác giữa Học viện quan hệ quốc tế Việt Nam và Viện nghiên cứu các vấn đề quốc tế Nhật Bản (2/2005).

Tuyên bố chung hợp tác du lịch giữa Tổng cục du lịch và Bộ Lãnh thổ, Hạ tầng và Vận tải Nhật Bản 4/2005.

Tuyên bố chung giữa hai Thủ tướng Việt Nam-Nhật Bản “hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” 10/2006.

Bản ghi nhớ về việc thành lập Ủy ban Hợp tác Việt Nam - Nhật Bản (5/2007).

Tuyên bố chung làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật Bản và Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược được ký nhân chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (11/2007).

Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam phát triển ngành công nghiệp phụ trợ ký kết giữa Bộ trưởng Bộ Công thương Việt Nam và Bộ trưởng Kinh tế-Thương mại-Công nghiệp Nhật Bản (METI) (12/2008) .

Tuyên bố chung giữa Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Aso Taro "Về quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu Á" (4/2009).

                                                                                     

                                                                                                Tháng 6/2010

 

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Các tin liên quan:

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer