Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ ba, ngày 20 tháng 11 năm 2018 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Tài liệu cơ bản về Nhật Bản và quan hệ Việt Nam - Nhật Bản


TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ NHẬT BẢN

I. Các vấn đề chung

- Dân số: 127,336 triệu (1/8/2013)

- Đơn vị tiền tệ: Yên

- Tỷ giá: 102 yên/USD (10/2/2014)

- GDP thực năm 2013: 525.494 nghìn tỷ Yên (5 nghìn tỷ USD)2 

- Dự trữ ngoại tệ đến tháng 12/2013: 1.266,815 tỷ USD3

- Chế độ chính trị: Theo Hiến pháp năm 1947, Nhật Bản theo thể chế quân chủ lập hiến kiểu Anh, trong đó:

+ Nhà Vua Nhật Bản Akihito là Nguyên thủ tượng trưng về mặt đối ngoại.

+ Nhà nước được tổ chức theo chế độ tam quyền phân lập.

+ Chính phủ hiện nay là chính phủ liên hiệp giữa Đảng Dân chủ Tự do (LDP) và Đảng Công Minh (Komeito).

- Một số lãnh đạo chủ chốt:

• Thủ tướng: Shinzo Abe (Sin-dô A-bê) (Đảng Dân chủ Tự do), từ 26/12/2012.

• Chủ tịch Hạ viện: Ibuki Bunmei (Không đảng phái), từ 27/12/2012.

• Chủ tịch Thượng viện: Yamazaki Masaaki (Đảng Dân chủ Tự do), từ 8/2013.

• Ngoại trưởng: Kishida Fumio (Ki-si-đa Phư-mi-ô) (Đảng Dân chủ Tự do), từ 26/12/2012.

II. Tình hình Nhật Bản

1. Chính trị nội bộ

- Nhật Bản theo hệ thống chính trị đa đảng phái, trong đó đảng Dân chủ tự do (LDP) là đảng chính trị lớn nhất và cầm quyền gần như liên tục trong giai đoạn 1955-2009 (riêng giai đoạn 1993-1996, Thủ tướng là người của đảng khác do LDP không nắm được đa số trong Hạ viện). Từ năm 2009-2012, đảng Dân chủ cầm quyền thay đảng LDP. Từ 12/2012  Đảng Dân chủ Tự do trở lại nắm quyền và kiểm soát được lưỡng Viện trong quốc hội. 

- Quốc hội Nhật Bản hiện nay bao gồm các nghị sỹ thuộc 10 đảng phái khác nhau, trong đó 2 đảng lớn nhất là LDP và DPJ. Cụ thể:

+ Tại Hạ viện: LDP 294/480 ghế, Công Minh 31/480, DPJ 57/480, Duy Tân 54/480, Đảng của mọi người 18/480, Cộng sản 8/480…Trong đó, Liên minh cầm quyền LDP-Công Minh chiếm 325/480 ghế, hơn 2/3 số ghế tại Hạ viện.

+ Tại Thượng viện: LDP 114/242 ghế, Công Minh 20/242,  DPJ 58/242, Duy Tân 9/242, Đảng của mọi người 18/242, Cộng sản 11/242…Trong đó, Liên minh cầm quyền LDP-Công Minh chiếm 135/242 ghế, quá bán tại Thượng viện.

2. Kinh tế

Là quốc gia nghèo tài nguyên, dân số đông, kinh tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh thế giới thứ 2. Sau chiến tranh, kinh tế Nhật Bản trải qua các giai đoạn: nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-1973), tăng trưởng chậm lại (1974-1990) và trì trệ (1991-2012). Hiện tại, tuy tiếp tục có nhiều vấn đề nan giải song Nhật Bản vẫn là cường quốc kinh tế thứ 3 thế giới với rất nhiều thế mạnh.

Sau khi lên nắm quyền (12/2012), Thủ tướng Abe đã triển khai mạnh mẽ chính sách kinh tế mới Abenomics gồm 3 “mũi tên”: (i) chính sách tiền tệ mạnh dạn; (ii) chính sách tài chính cơ động; (iii) xây dựng chiến lược tăng trưởng mới. Đến nay, Abenomics bước đầu phát huy hiệu quả tích cực đến nền kinh tế. Lần đầu tiên sau 2 năm rưỡi, kinh tế Nhật Bản được đánh giá “bắt đầu phục hồi chậm”, GDP 2013 tăng thực chất 1,6% so với 2012. Tuy nhiên, kinh tế Nhật Bản tiếp tục đối mặt với vấn đề nợ công cao (năm 2012 là 238% GDP), thâm hụt thương mại và thất nghiệp.

3. Đối ngoại

Từ khi lên nắm quyền tháng 12/2012, Đảng cầm quyền Dân chủ tự do( LDP) đã triển khai chính sách đối ngoại với 3 trụ cột là (i) Củng cố đồng minh Nhật-Mỹ (ii) Coi trọng quan hệ hợp tác với các nước láng giềng (iii) Triển khai ngoại giao kinh tế để khôi phục kinh tế của Nhật Bản và theo phương châm: (i) Bảo đảm an ninh quốc gia, tạo dựng một môi trường hòa bình và ổn định của khu vực; (ii) Triển khai thuyết “ngoại giao giá trị” với tầm nhìn toàn cầu, tăng cường liên kết với các nước có cùng giá trị cơ bản về tự do, dân chủ, sự chi phối của pháp luật đề hình thành một “vòng cung” bao vây, kiềm chế Trung Quốc; (iii) Tạo điều kiện phát triển đất nước, nhất là đảm bảo an ninh năng lượng.

Trên cơ sở đó, Thủ tướng Abe tích cực triển khai các hoạt động đối ngoại nhằm: (i) củng cố và đẩy mạnh quan hệ đồng minh an ninh Nhật-Mỹ để bảo vệ lợi ích quốc gia, coi đây là trục cột của ngoại giao Nhật Bản; (ii) đẩy mạnh quan hệ nhiều mặt với các nước khu vực CA-TBD, coi hòa bình ổn định hợp tác và phát triển tại khu vực này là yếu tố đảm bảo cho sự ổn định về mặt an ninh chính trị và thúc đẩy hồi phục kinh tế của Nhật Bản; (iii) không chấp nhận Trung Quốc thay đổi hiện trạng bằng sức mạnh nhưng bình tĩnh ứng phó và sẵn sàng đối thoại; tăng cường năng lực bảo vệ an toàn vùng biển, vùng trời, đặc biệt ở khu vực Tây Nam (gần Trung Quốc); thúc đẩy quan hệ với Nga; (iv) coi trọng quan hệ với Hàn Quốc, sử dụng phương châm “đối thoại và gây áp lực” nhằm yêu cầu Triều Tiên có hành động cụ thể hướng tới giải quyết toàn diện các vấn đề bắt cóc, tên lửa và hạt nhân; (v) khẳng định ASEAN là đối tác của hòa bình, ổn định và thịnh vượng, ưu tiên tăng cường hợp tác kinh tế và an ninh-quốc phòng nhằm đối phó và kiềm chế Trung Quốc gia tăng hoạt động trên biển; (vi) thúc đẩy hợp tác chính sách về an ninh và năng lượng với các nước Ấn Độ, Úc, Trung Đông, EU...; (vii) coi Châu phi là “mặt trận mới” của ngoại giao Nhật Bản.

4. Quốc phòng - an ninh

Theo Hiến pháp năm 1947, Nhật Bản không có quân đội mà chỉ có lực lượng phòng vệ (SDF). Nhật chủ yếu dựa vào sự bảo đảm của Mỹ theo Hiệp ước hòa bình (năm 1951) và Hiệp ước an ninh Nhật-Mỹ (năm 1960). Sau sự kiện 11/9/2001, Quốc hội Nhật thông qua 3 Luật chống khủng bố, cho phép cử quân ra nước ngoài, hợp tác với Mỹ chống khủng bố. Tháng 5/2003, thông qua “Bộ luật hữu sự” mở rộng chức năng và hoạt động của SDF, quyền chỉ huy của Thủ tướng. Tháng 1/2007, Nhật Bản chính thức nâng cấp Cục Phòng vệ lên thành Bộ Phòng vệ (Bộ Quốc phòng).

Từ khi lên nắm quyền đến nay, Thủ tướng Abe tích cực triển khai chính sách an ninh mới dưới tên gọi “Chủ nghĩa hòa bình tích cực” với 4 nội dung chính là: (i) Thành lập Hội đồng an ninh quốc gia; (ii) Xây dựng chiến lược an ninh quốc gia; (iii) Sửa đổi Đại cương phòng vệ; (iv) Thúc đẩy xem xét việc thực hiện quyền phòng vệ tập thể và tham gia vào cơ chế an ninh tập thể của Liên Hợp Quốc (nêu tại Hội nghị cấp cao ASEAN-Nhật Bản (10/2013), nhằm đóng góp tích cực hơn nữa vào hòa bình, ổn định của khu vực và thế giới, cải thiện môi trường an ninh, giảm thiểu đe dọa an ninh đối với Nhật Bản, tăng cường năng lực quốc phòng.

Để thực hiện, chính quyền Abe đã triển khai các bước quan trọng sau:

(i) Tăng cường xây dựng hành lang pháp lý và các cơ chế an ninh quốc gia: Thành lập “Hội đồng an ninh quốc gia” (12/2013) tạo cơ chế phản ứng nhanh và tăng vai trò của Thủ tướng về các vấn đề quốc phòng - an ninh; xây dựng “chiến lược an ninh quốc gia” (12/2013) với những định hướng chiến lược cơ bản nhất về chính sách ngoại giao, quốc phòng-an ninh; xem xét sửa đổi “3 nguyên tắc xuất khẩu vũ khí”...;

(ii) Thúc đẩy sửa đổi cách giải thích Hiến pháp và tiến tới sửa đổi Hiến pháp nhằm công nhận việc sử dụng quyền phòng vệ tập thể và thành lập quân đội. Đến nay, đã nhận được sự ủng hộ của các đảng đối lập như đảng Duy Tân, đảng ”Vì mọi người”.

(iii) Tăng cường năng lực an ninh quốc phòng: thông qua việc sửa đổi “Đại cương kế hoạch phòng vệ” và “Kế hoạch trang bị phòng vệ trung hạn” (12/2013), trong đó nhấn mạnh Nhật tăng cường phối hợp hợp tác an ninh, kiên trì nguyên tắc phòng vệ chuyên thủ, chuyển từ “phòng vệ động” (đại cương 2010 dưới thời đảng Dân chủ) sang “phòng vệ cơ động tổng hợp”, tăng cường bảo vệ phía Tây Nam (gần Trung Quốc), đặc biệt là các đảo xa, đẩy mạnh liên kết tổng hợp hải-lục-không quân, tăng ngân sách quốc phòng và mua sắm trang thiết bị, vũ khí…;

(iv) Tăng cường đồng minh Nhật-Mỹ, đẩy mạnh “ngoại giao giá trị” nhằm kiềm chế Trung Quốc.

 

QUAN HỆ VIỆT NAM – NHẬT BẢN

 

I. Ngày lập quan hệ ngoại giao: 21/09/1973

- Sau năm 1975, hai bên trao đổi Đại sứ quán; ký thoả thuận về việc Chính phủ Nhật Bản bồi thường chiến tranh với danh nghĩa viện trợ không hoàn lại của Chính phủ Nhật Bản đối với Việt Nam 13,5 tỷ Yên (khoảng 49 triệu USD). Giai đoạn 1979-1990, do vấn đề Campuchia, Nhật Bản đông kết các khoản viện trợ đã thỏa thuận, lấy vấn đề rút quân Việt Nam khỏi Campuchia làm điều kiện mở lại viện trợ; phối hợp với Mỹ và Phương Tây ngăn cản các tổ chức tài chính quốc tế (IMF, WB, ADB…) cung cấp tài chính cho Việt Nam. Quan hệ chính trị rất hạn chế.

- Năm 1992, Nhật Bản quyết định mở lại viện trợ cho Việt Nam. Từ đó đến nay, các mối quan hệ kinh tế, chính trị, giao lưu văn hoá… được mở rộng; sự hiểu biết và tin cậy giữa hai nước từng bước được tăng lên.

Nhật Bản là nước G-7 đầu tiên đón Tổng Bí thư ta đi thăm (năm 1995), nước G-7 đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược với ta (năm 2009), nước G-7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (năm 2011) và là nước G-7 đầu tiên nguyên thủ gọi điện thoại cho Lãnh đạo cấp cao của ta ngay sau khi lên nắm quyền (năm 2012).

II. Khuôn khổ quan hệ giữa hai nước không ngừng được nâng cấp với nội dung hợp tác ngày càng sâu rộng. Từ quan hệ “Đối tác tin cậy, ổn định lâu dài” (4/2002) lên Đối tác bền vững (7/2004). Tháng 11/2006, nhân chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hai bên ký Tuyên bố chung về “Hướng tới đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á”. Năm 2007, Tuyên bố chung về việc “Làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam và Nhật Bản” và “Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược” (nhân chuyến thăm chính thức Nhật Bản của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết tháng 11/2007).

Năm 2009, Tuyên bố chung về "Quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu Á", nhất trí đưa quan hệ hai nước lên tầm đối tác chiến lược (nhân chuyến thăm Nhật Bản của Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh tháng 4/2009). Nhật Bản là nước đầu tiên trong các nước G-7 thiết lập quan hệ đối tác chiến lược với ta (nước tiếp theo là Anh năm 2010, Đức năm 2011).

- Năm 2010, "Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á" (nhân chuyến thăm Việt Nam của Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan tháng 10/2010).

- Năm 2011, "Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản" (nhân chuyến thăm Nhật Bản của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tháng 10/2011).

- Năm 2013, lần đầu tiên hai nước tổ chức Năm hữu nghị nhân kỷ niệm 40 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao.

- Năm 2014, “Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” (nhân chuyến thăm Nhật Bản cấp Nhà nước của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang).

III. Về quan hệ chính trị

- Lãnh đạo cấp cao hai nước duy trì thường xuyên các chuyến thăm và tiếp xúc tại các diễn đàn quốc tế và khu vực.

- Một số cơ chế đối thoại giữa hai nước:

+ Tháng 5/2007, hai bên thành lập Ủy ban Hợp tác Việt-Nhật do hai Bộ trưởng Ngoại giao làm đồng Chủ tịch (đã họp 5 phiên).

+ Đối thoại Đối tác chiến lược Việt Nam-Nhật Bản về ngoại giao-an ninh-quốc phòng cấp Thứ trưởng ngoại giao từ năm 2010 (đã họp 4 phiên).

+ Đối thoại chính sách quốc phòng Việt-Nhật cấp Thứ trưởng từ tháng 11/2012 (đã họp 2 phiên).

+ Đối thoại An ninh cấp Thứ trưởng (đã họp phiên đầu tiên tháng 11/2013).

+ Đối thoại chính trị định kỳ ở cấp Thứ trưởng Ngoại giao (từ năm 1993).

- Nhật Bản ủng hộ đường lối đổi mới, mở cửa của Việt Nam; hỗ trợ Việt Nam hội nhập vào khu vực và thế giới (APEC, WTO, ASEM, ARF, vận động OECD giúp Việt Nam về kỹ thuật...).

IV. Về kinh tế

Nhật Bản là đối tác kinh tế quan trọng hàng đầu của Việt Nam và là nước G7 đầu tiên công nhận quy chế kinh tế thị trường của Việt Nam (tháng 10/2011).

Đến nay, Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, nhà đầu tư số 1 tại Việt Nam (cả về tổng vốn đầu tư và vốn đã giải ngân), đối tác thương mại lớn thứ 4 của Việt Nam.

Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (tháng 12/2004), Hiệp định đối tác kinh tế Việt Nam-Nhật Bản (VJEPA) (tháng 10/2009)... tạo khuôn khổ pháp lý thuận lợi cho phát triển quan hệ kinh tế, thương mại giữa hai nước.

Hiện tại, Nhật Bản đang tích cực hỗ trợ ta phát triển công nghiệp trong khuôn khổ Ban Chỉ đạo Chiến lược công nghiệp hóa của Việt Nam trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam - Nhật Bản đến năm 2020 do Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải làm Trưởng Ban (được thành lập ngày 13/8/2012).

Hai bên đã phối hợp tốt để giải quyết một số sự cố trong hợp tác kinh tế như vụ PMU 18 (2006); vụ sập nhịp dẫn cầu Cần Thơ (2007); vụ công ty PCI Nhật Bản hối lộ (2008).

Về thương mại:

Hai nước đã dành cho nhau thuế suất tối huệ quốc từ năm 1999. Năm 2013, Nhật Bản là bạn hàng thương mại đứng thứ 4 của Việt Nam với kim ngạch thương mại hai chiều đạt 25,163 tỷ USD, trong đó xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 13,581 tỷ USD (tăng 4% so với năm 2012), nhập khẩu đạt 11,582 tỷ USD (giảm 0,2%).

4 tháng đầu năm 2014, kim ngạch thương mại hai chiều đạt 8,537 tỷ USD tỷ USD, trong đó, xuất khẩu của Việt Nam sang Nhật Bản đạt 5,059 tỷ USD (tăng 23% so với năm 2013), nhập khẩu đạt 3,478 tỷ USD (giảm 1,6%) (Nguồn Bộ Công Thương).

Hàng xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam là thủy sản, dệt may, dầu thô, cáp điện, than đá, đồ gỗ… hàng nhập khẩu chủ yếu là máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện; sắt thép các loại; vải các loại; linh kiện ôtô; nguyên liệu dệt, da…

Ngày 21/1/2014, Nhật Bản đã bãi bỏ việc kiểm tra toàn bộ tồn dư chất Ethoxyquin đối với tôm của Việt Nam nhập khẩu vào Nhật Bản, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy thương mại hai chiều về mặt hàng nông lâm thủy sản.

Về đầu tư trực tiếp:

Hai bên đã cơ bản hoàn thành Giai đoạn IV Sáng kiến chung Việt Nam - Nhật Bản về cải thiện môi trường đầu tư của Việt Nam và thỏa thuận khởi động Giai đoạn V Sáng kiến chung trong năm 2013.

Năm 2013, FDI Nhật Bản dẫn đầu (trong tổng số 54 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam) với tổng đầu tư đăng ký cấp mới và tăng thêm là 5,747 tỷ USD (Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài đến ngày 15/12/2013). 

4 tháng đầu năm 2014, Nhật Bản có 104 dự án cấp mới và tăng vốn với tổng số vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm đạt 531,06 triệu USD, đứng thứ 2/36 (sau Hàn Quốc).

Lũy kế đến hết tháng 4/2014, Nhật Bản có 2.226 dự án còn giá trị hiệu lực với tổng số vốn đạt 35,5 tỷ USD, đứng đầu trong tổng số 101 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam (Nguồn: Cục Đầu tư nước ngoài).

Về viện trợ phát triển chính thức ODA:

Nhật Bản là nước tài trợ ODA lớn nhất cho Việt Nam, chiếm khoảng 30% tổng cam kết ODA của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Từ năm 1992 đến hết tài khóa 2012 (31/3/2013), Nhật Bản đã cam kết khoảng 2.118 tỷ Yên (khoảng 24 tỷ USD theo tỷ giá hiện nay) vốn vay ODA cho Việt Nam. Nhật Bản đã cam kết 1,55 tỷ USD ODA cho Việt Nam trong tài khóa 2013.

Nhân chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước, hai bên đã ký Công hàm trao đổi và Hiệp định vay cho 05 dự án ODA thuộc đợt 2 tài khóa 2013 trị giá 120 tỷ yên ưu đãi. Như vậy, trong tài khóa 2013, Nhật Bản đã cam kết 2,1 tỷ USD ODA vốn vay cho Việt Nam cho 10 chương trình/dự án4.

V. Về hợp tác khoa học, công nghệ

Kể từ khi Hiệp định giữa Chính phủ hai nước Việt Nam-Nhật Bản về khoa học và công nghệ được ký năm 2006 đến nay, Ủy ban hỗn hợp Việt Nam-Nhật Bản về hợp tác khoa học và công nghệ đã tổ chức họp 3 lần. Số lượng các nhà khoa học Việt Nam sang Nhật Bản và các nhà khoa học Nhật Bản sang Việt Nam tiến hành các hoạt động nghiên cứu chung ngày càng tăng. Hiện tại, Nhật Bản đang tích cực hỗ trợ ta phát triển điện hạt nhân và an toàn bức xạ và hạt nhân; khai thác và chế biến đất hiếm; hợp tác về tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng và sở hữu trí tuệ.

Hai bên đang triển khai một số dự án quan trọng trong lĩnh vực này dưới hình thức Nhật Bản hỗ trợ vốn vay ODA cho Việt Nam: Dự án phát triển cơ sở hạ tầng Khu công nghệ cao Hòa Lạc; Dự án Trung tâm Vũ trụ Việt Nam của Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam.

VI. Về hợp tác lao động

Từ năm 1992 đến nay, Việt Nam đã cử khoảng 31.000 tu nghiệp sinh sang Nhật Bản. Hiện có khoảng 18.000 lao động, thực tập sinh Việt Nam tại Nhật Bản. Trong những năm gần đây, số lượng lao động, thực tập sinh liên tục tăng (năm 2009: 5.500 người, năm 2010: 5.000 người, 2011: 7.000 người, 2012: 8.500 người). Hiện ta đang đề nghị Nhật Bản tiếp nhận thực tập sinh trong lĩnh vực nông-ngư nghiệp, chế biến nông-hải sản với số lượng nhiều trong thời gian tới.

Hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản tiếp nhận điều dưỡng viên, hộ lý của Việt Nam (trong khuôn khổ Hiệp định đối tác kinh tế song phương EPA tháng 10/2011). Ta là nước Đông Nam Á thứ ba sau Philippines và Indonesia phía Nhật Bản nhận điều dưỡng viên, hộ lý. Hiện khóa học đào tạo 12 tháng tại Việt Nam trước khi sang Nhật đối với ứng viên tài khóa 2012 đã khai giảng tháng 12/2012 (150 người). Theo kế hoạch, khóa tiếp theo sẽ tuyển khoảng 180 ứng viên.

VII. Về du lịch

Tháng 4/2005, hai bên ký Tuyên bố chung về hợp tác du lịch Việt Nam-Nhật Bản, tạo điều kiện cho việc thu hút khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam. Số lượng khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam tăng đều trong những năm qua. Năm 2013 có 604.050 lượt khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2012.

Lượng khách du lịch Nhật Bản vào Việt Nam 4 tháng đầu năm 2014 đạt 222.278 lượt (đứng thứ 3 sau Trung Quốc, Hàn Quốc), tăng 8,45% so với cùng kỳ năm 2013 (Nguồn: Tổng Cục Du lịch).

VIII. Về văn hoá thông tin

Nhật Bản có nhiều dự án giúp Việt Nam nghiên cứu bảo tồn, tôn tạo các ngôi nhà ở dân gian truyền thống tiêu biểu ở cả ba miền Bắc-Trung-Nam. Chính phủ Nhật Bản bắt đầu hợp tác và hỗ trợ cho việc bảo tồn di tích Hoàng Thành Thăng Long vào năm 2004. Năm 2006, Ủy ban hỗn hợp Việt-Nhật bảo tồn di tích Hoàng Thành Thăng Long đã được thành lập. Đến nay, Nhật Bản đã cử nhiều chuyên gia về khảo cổ học sang Việt Nam cùng điều tra, khai quật và nghiên cứu. Ngoài ra, hai bên cử nhiều đoàn sang thăm, làm việc, biểu diễn nghệ thuật, tham dự triển lãm, liên hoan phim, tổ chức Lễ hội tại mỗi nước. Lễ hội Việt Nam tại Nhật Bản đã được tổ chức thường niên từ năm 2008; Đại nhạc hội Việt Nam-Nhật Bản năm 2008 và 2010.

Bộ trưởng Ngoại giao hai nước đã gia hạn nhiệm kỳ Đại sứ Đặc biệt Việt Nam-Nhật Bản (đến 31/3/2016) và Đại sứ Đặc biệt Nhật Bản-Việt Nam (đến 31/3/2016) cho ông Sugi Ryotaro.

IX. Về giáo dục đào tạo

Quan hệ hợp tác về giáo dục và đào tạo giữa hai nước đã phát triển dưới nhiều hình thức: Hợp tác giữa hai Chính phủ, giữa các trường học, giữa các tổ chức, giữa các cá nhân. Những năm gần đây, Nhật Bản là một trong những nước viện trợ không hoàn lại lớn nhất cho ngành giáo dục đào tạo của Việt Nam. Trong chuyến thăm Nhật Bản của Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Nguyễn Thiện Nhân (3/2008), hai bên đã ký Bản ghi nhớ về việc Nhật Bản giúp Việt Nam đào tạo 1000 tiến sỹ cho Việt Nam đến năm 2020. Trên cơ sở đề nghị của ta về hợp tác phát triển trường đại học chất lượng cao tại Việt Nam, phía Nhật Bản đã quyết định chọn 4 trường để hỗ trợ nâng cấp là Đại học Cần Thơ, Đại học Đà Nẵng, Đại học quốc gia Hà Nội, Đại học Nông nghiệp Hà Nội; trước mắt sẽ bắt đầu thực hiện từ Đại học Cần Thơ. Hiện có khoảng 4.000 lưu học sinh Việt Nam tại Nhật Bản.

Việt Nam cũng đã mời nhiều giáo sư, chuyên gia Nhật Bản sang giảng dạy, tiếp nhận các học giả Nhật Bản sang tìm hiểu về văn hoá, lịch sử Việt Nam. Với sự trợ giúp của chính phủ Nhật Bản, Việt Nam đã hoàn thành giai đoạn thí điểm dạy tiếng Nhật tại một số trường phổ thông cơ sở tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh 2003-2013. Nhằm tiếp tục triển khai giai đoạn II của Dự án hợp tác này, hai bên sẽ sớm thành lập nhóm chuyên gia nghiên cứu việc mở rộng giảng dạy tiếng Nhật tới cấp tiểu học và mở rộng sang các địa phương khác tại Việt Nam.

Từ tháng 5/2013 thông qua các dự án hỗ trợ kỹ thuật Nhật Bản hỗ trợ Đại học Công nghiệp Hà Nội đào tạo giáo viên dạy nghề, qua đó, hỗ trợ nâng cấp 6 trường đào tạo nghề tại 5 tỉnh, thành (Hà Nội-2 trường, Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thanh Hóa, Bà Rịa-Vũng Tàu). Năm 2013, Hội doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đã ký Thỏa thuận hợp tác đào tạo nhân lực theo chuẩn nghề nghiệp của Nhật Bản. Nhật Bản cũng đang giúp ta thực hiện dự án Trung tâm đào tạo logistics khu vực Mê Công.

X. Về lãnh sự

Theo thống kê của Bộ tư pháp Nhật, đến hết năm 2013, tại Nhật có 64.332 người Việt Nam và tại Việt Nam có 11.200 người Nhật. Nhật Bản đã mở Tổng lãnh sự quán tại Tp. Hồ Chí Minh. Phía ta mở Tổng Lãnh sự quán tại Osaka (3/1997) và Fukuoka (4/2009); Tháng 6/2010, bổ nhiệm 2 Tổng Lãnh sự danh dự của Việt Nam tại thành phố Nagoya (tỉnh Aichi) và thành phố Kushiro (Hokkaido).

Từ ngày 1/1/2004, Việt Nam đơn phương miễn thị thực cho người Nhật đi du lịch và kinh doanh vào Việt Nam trong vòng 15 ngày và từ ngày 1/7/2004, quyết định miễn thị thực nhập cảnh ngắn hạn cho mọi công dân mang hộ chiếu Nhật Bản. Ngày 8/3/2005, hai bên đã trao đổi Công hàm miễn thị thực nhập cảnh cho công dân hai nước Việt Nam và Nhật Bản mang Hộ chiếu ngoại giao và công vụ trong thời hạn lưu trú không quá 90 ngày bắt đầu thực hiện từ 1/5/2005.

XI. Về hợp tác địa phương hai nước

Trong những năm gần đây, hợp tác địa phương hai nước được thúc đẩy mạnh mẽ, đã có nhiều tỉnh của Nhật Bản và Việt Nam ký văn bản hợp tác, điển hình như: Hồ Chí Minh- Osaka (2007), Đà Nẵng - Sakai (2009), Hải Phòng - Kitakyushu (2009), Hà Nội - Fukuoka (ký lần hai năm 2013), Thành phố Huế - thành phố Kyoto (2013), Đà Nẵng - Yokohama (2013), Hồ Chí Minh - Yokohama (2013), Đồng Nai - Hyogo (2013), Bà Rịa - Vũng Tàu - Kawasaki (2013), Phú Thọ - Nara (2014).

Bên cạnh đó, giao lưu đoàn các địa phương cũng được tăng cường. Năm 2013, năm kỷ niệm 40 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt-Nhật có 17 đoàn vào cấp Thống đốc, Tỉnh trưởng, Chủ tịch các tổ chức kinh tế địa phương, Lãnh đạo các hội hữu nghị các tỉnh Nhật Bản và 21 đoàn ra từ cấp Phó Bí thư hoặc Phó Chủ tịch, Lãnh đạo các tỉnh, thành phố.
Tỉnh Thừa Thiên Huế và tỉnh Kyoto ký Biên bản hợp tác hữu nghị (3/2014).

 

PHỤ LỤC

 

1. Các Hiệp định đã ký giữa hai nước:

• Các Hiệp định vay ODA hàng năm (từ 1992).

• Hiệp định Hàng không (5/1994).

• Hiệp định tránh đánh thuế hai lần (9/1995).

• Hiệp định hợp tác kỹ thuật (10/1998).

• Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (12/2004).

• Hiệp định hợp tác khoa học và công nghệ (8/2006).

• Hiệp định Đối tác kinh tế song phương Việt Nam-Nhật Bản VJEPA (25/12/2008, có hiệu lực từ 10/2009).

• Hiệp định về hợp tác phát triển và sử dụng năng lượng hạt nhân vì mục đích hòa bình (1/2011, có hiệu lực từ 1/2012).

2. Các văn kiện thỏa thuận:

Tuyên bố chung

• Tuyên bố chung về hợp tác IT Việt Nam-Nhật Bản (6/2004).

• Tuyên bố chung hợp tác du lịch giữa Tổng cục du lịch và Bộ Lãnh thổ, Hạ tầng, Giao thông và Du lịch Nhật Bản tháng 4/2005.

• Tuyên bố chung giữa hai Thủ tướng Việt Nam-Nhật Bản “hướng tới quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” (10/2006).

• Tuyên bố chung làm sâu sắc hơn quan hệ Việt Nam-Nhật Bản và Chương trình hợp tác hướng tới quan hệ đối tác chiến lược (11/2007) được ký nhân chuyến thăm Nhật Bản của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

• Tuyên bố chung giữa Việt Nam-Nhật Bản “Về quan hệ đối tác chiến lược vì hoà bình và phồn vinh ở Châu Á” giữa Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh và Thủ tướng Aso Taro (4/2009).

• “Tuyên bố chung Việt Nam-Nhật Bản về phát triển toàn diện quan hệ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở châu Á” ký giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Nhật Bản Naoto Kan (10/2010).

• “Tuyên bố chung triển khai hành động trong khuôn khổ đối tác chiến lược vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á giữa Việt Nam và Nhật Bản” ký giữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và Thủ tướng Noda (31/10/2011).

• “Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược sâu rộng vì hòa bình và phồn vinh ở Châu Á” ký giữa Chủ tịch nước Trương Tấn Sang và Thủ tướng Shinzo Abe (18/3/2014).

3. Các chuyến thăm của Lãnh đạo hai nước:

- Lãnh đạo Nhật Bản thăm Việt Nam: Thủ tướng Nhật Bản thăm Việt Nam 8 lần (Murayama 8/1994, Hashimoto 1/1997, Obuchi 12/1998, Koizumi 4/2002 và 10/2005 nhân dự cấp cao ASEM 5, Shinzo Abe 11/2006 và 01/2013, Naoto Kan 10/2010); Hoàng tử Nhật Bản Akishino thăm chính thức Việt Nam tháng 6/1999 và thăm với tư cách cá nhân tháng 8/2012; Hoàng Thái tử Nhật Bản thăm chính thức Việt Nam tháng 2/2009.

- Lãnh đạo Việt Nam thăm Nhật Bản: Tổng Bí thư Đỗ Mười thăm chính thức tháng 4/1995 (Nhật Bản là nước đầu tiên trong các nước G-7, Tổng Bí thư thăm chính thức); Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm chính thức tháng 10/2002, 4/2009; Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm cấp nhà nước tháng 11/2007; Thủ tướng Võ Văn Kiệt thăm chính thức tháng 4/1993; Thủ tướng Phan Văn Khải thăm chính thức tháng 4/1999 và sau đó thăm làm việc tháng 6/2001, 4/2003, 12/2003, 6/2004 và ghé thăm Nhật tháng 7/2005; Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức tháng 10/2006, 10/2011 và 12/2013, thăm làm việc tháng 5/2009, dự Hội nghị cấp cao Mê Công-Nhật Bản 11/2009 và 4/2012; Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng thăm chính thức tháng 3/2008, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thăm chính thức tháng 12/2012, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm cấp nhà nước tháng 3/2014.

_____________________________________________________________________________

1Nguồn: Tổng cục thống kê Nhật Bản

2Nguồn: www.nikkei.com

3Nguồn: Thống kê Bộ Tài chính Nhật Bản

4Thủy điện Đa Nhim, đường vành đai 3 Thành phố Hà Nội, Nhà ga hành khách T2 Sân bay Nội Bài; Chương trình hỗ trợ quản lý kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh 2 (EMCC 2); Chương trình hỗ trợ ứng phó với Biến đổi khí hậu chu kỳ IV; Dự án Xây dựng đường bộ cao tốc Bắc-Nam (đoạn Đà Nẵng - Quảng Ngãi, đoạn Hồ Chí Minh - Dầu Giây), dự án cảng Lạch Huyện (phần cầu và phần hạ tầng cảng), dự án xây dựng Nhà máy nhiệt điện Thái Bình và đường dây truyền tải.

                                                                               (Cập nhật đến tháng 3/2014)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer