Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ ba, ngày 20 tháng 11 năm 2018 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

TÀI LIỆU CƠ BẢN VỀ HY LẠP VÀ QUAN HỆ VIỆT NAM - HY LẠP


BỘ NGOẠI GIAO

    Vụ Châu Âu                                                                      

 

TÀI LIỆU CƠ BẢN

CỘNG HÒA HY LẠP

---*---

I. Giới thiệu chung:

Tên nước:

Cộng hòa Hy Lạp (Hellenic Republic).

Quốc kỳ:

Flag of Greece.svg

Thủ đô:

A-ten (Athens).

Vị trí địa lý:

Phía Nam bán đảo Balkan, phía Đông Nam Châu Âu. Phía Bắc tiếp giáp với Albania, Macedonia và Bulgaria, phía Đông tiếp giáp với Thổ Nhĩ Kỳ và biển E-giê (Aegean), phía Nam giáp biển Địa Trung Hải, phía Tây giáp biển Ionian. Ngoài phần đất liền, Hy Lạp còn có  khoảng 3000 hòn đảo nằm rải rác từ biển Ionian đến biển E-giê, trong số đó 1200 đảo có người sinh sống. Crete là đảo lớn và đông dân nhất. 

Diện tích:

131.940 km2.

Khí hậu:

Đặc trưng khu vực Địa Trung Hải: mùa hè khô nóng, mùa đông lạnh, ẩm ướt, nhiệt độ trung bình mùa đông 6-13°C và mùa hè từ 23-33°C.

Tài nguyên thiên nhiên

dầu mỏ, sắt, bô xít, kẽm, niken...

GDP:

318 tỉ USD (năm 2018).

GDP đầu người:

28.434 USD (năm 2012).

Đơn vị tiền tệ:

eu-ro (euro).

Dân số:

11,2  triệu người (năm 2012).

Dân tộc:

94% người Hy Lạp, 4% người Albania, 2% các dân tộc khác.

Tôn giáo:

Đạo Chính thống Hy Lạp (98%), Đạo Thiên chúa và Đạo Hồi (2%).

Ngôn ngữ:

tiếng Hy Lạp.

Ngày Quốc khánh:

25/3/1821.

Lãnh đạo chủ chốt:

+ Tổng thống: Ka-rô-lốt Pa-pao-li-át (Karolos Papoulias )[1]

+ Thủ tướng:  An- tô- nít Xa-ma-rát (Antonis Samaras)

+ Chủ tịch Quốc hội: Ê-văng-hê-lốt Mây-ma-ra-kít (Evangelos Meimarakis)

+ Bộ trưởng Ngoại giao: Đi-mi-tờ-rít A-vờ-ra-mô-pu-lốt ( Dimitris Avramopoulos)

 

II. Khái quát lịch sử:

Hy Lạp là một trong những nền văn minh rực rỡ nhất thời cổ đại, có ảnh hưởng sâu rộng đến nền văn minh quanh khu vực Địa Trung Hải. Dưới thời Vua Alexandros Đại đế (thế kỷ IV trước Công nguyên),  người Hy Lạp đã có những cuộc bành trướng rộng khắp Ai Cập, Ba Tư và Ấn Độ, dẫn tới ảnh hưởng văn hóa của Hy Lạp lan rộng, kéo dài từ biển E-giê đến vùng Cáp-ca-dơ Trung Á. Sau này, khi  Đế chế La Mã thành lập và trở nên hùng mạnh, Hy Lạp đã trở thành một tỉnh của La Mã nhưng văn hóa, tinh hoa Hy Lạp cổ đại vẫn được duy trì và phát triển và là nền móng của văn minh phương Tây hiện đại (văn học Hy Lạp cổ đại với những thần thoại các vị thần Hy Lạp, triết học, toán học, kiến trúc…). Hy Lạp là nơi ra đời Thế vận hội (Olympic) đầu tiên vào năm 776 trước Công nguyên, khởi nguồn của Thế vận hội Olympic hiện đại ngày nay.

Từ năm 146 trước Công nguyên đến đầu thế kỷ thứ 19, Hy Lạp lần lượt bị các đế quốc La Mã, Byzantin, Ottoman thống trị. Từ năm 1821-1829, nhân dân Hy Lạp đã nổi dậy khởi nghĩa giành lại độc lập cho dân tộc, ngày 25/3/1821 được lấy làm ngày Quốc khánh của Hy Lạp. Nhờ thắng lợi của Nga trong chiến tranh Nga - Thổ (1827 - 1829), Hy Lạp được công nhận độc lập năm 1830 dưới sự bảo trợ của Anh, Nga, Pháp.

Tháng 4/1924, Hy Lạp bãi bỏ chế độ quân chủ, thiết lập chế độ Cộng hoà. Năm 1936, chế độ Cộng hoà bị thay thế bằng chế độ độc tài của tướng Metaxas (còn gọi là chế độ mùng 4 tháng 8). Từ 1941-1944, Hy Lạp trở thành chiến trường khốc liệt giữa quân Phát xít và quân Đồng minh. Sau khi được giải phóng khỏi ách cai trị của phát xít Đức, từ 1946-1949, xảy ra nội chiến Hy Lạp giữa một bên là lực lượng Hoàng gia thân Anh và một bên là những người cộng sản và kháng chiến cũ. Bắt đầu từ năm 1965, Hy Lạp lâm vào một cuộc khủng hoảng chính trị khiến tình hình đất nước trở nên hỗn loạn. Năm 1967, phái quân sự đảo chính, mở ra thời kỳ đàn áp gay gắt phong trào dân sinh, dân chủ, cấm mọi đảng phái chính trị hoạt động.

Ngày 24/7/1974, Constantine Karamalis (lưu vong ở Pháp) trở về Hy Lạp thành lập Đảng Dân chủ mới và Chính phủ liên hiệp lâm thời. Bản Hiến pháp của chính thể cộng hòa ra đời vào năm 1975, đồng thời chế độ quân chủ ở Hy Lạp chính thức bị giải tán.

Các mốc lịch sử quan trọng:

- 25/3/1821: Ngày giành được độc lập từ đế chế Ottoman, Quốc khánh Hy Lạp.

- 25/10/1945: Gia nhập LHQ.

- 18/2/1952: Gia nhập NATO

- 11/6/1975: Hiến pháp Cộng hòa Hy Lạp được thông qua.

- 01/1/1981: Gia nhập Cộng đồng châu Âu (Liên minh châu Âu ngày nay)

- 02/01/2001: Gia nhập khu vực đồng tiền chung châu Âu.

III. Thể chê nhà nước:

- Chính thể: Cộng hòa đại nghị,

- Các khu vực hành chính: 13 tỉnh (gồm 54 quận/huyện) và 1 khu tự trị (Mount Athos)

- Cơ quan hành pháp:

+ Người đứng đầu Nhà nước: Tổng thống, do Quốc hội bầu, nhiệm kỳ 5 năm tối đa được bầu 2 nhiệm kỳ).

+ Người đứng đầu chính phủ: Tống thống chỉ định lãnh đạo đảng nắm đa số phiếu bầu làmThủ tướng, người đứng đầu Chính phủ.

- Cơ quan lập pháp: Quốc hội một viện có 300 ghế, các thành viên được bầu theo phổ thông đầu phiếu, bầu cử 4 năm/lần. Tuy nhiên Tổng thống có quyền giải tán quốc hội và tổ chức bầu cử sớm.

- Cơ quan tư pháp: Toà án Tư pháp Tối cao và Toà án Tối cao đặc biệt; các thẩm phán của hai  cơ quan này do Tổng thống bổ nhiệm suốt đời sau khi tham khảo ý kiến của Hội đồng tư pháp.

- Các chính đảng:  Hai đảng có vai trò quan trọng nhất và thay nhau nắm quyền tại Hy Lạp từ 1975 đến nay là Đảng Dân chủ mới và Phong trào Xã hội (PASOK).

Ngày 6/5/2012, khoảng 6,5 triệu cử tri Hy Lạp (tương đương với 65% tổng số 10 triệu cử tri đăng ký) đã tham gia bầu cử Quốc hội trước thời hạn tại Hy Lạp với kết quả:

Đảng dân chủ mới trung tả – ND đứng đầu với 18,85% số phiếu.

Đảng Liên minh cánh tả cấp tiến – Syriza đứng thứ 2 với 16,78% số phiếu

          Đảng Phong trào dân chủ trung hữu cầm quyền – Pasok tụt đứng thứ 3 với 13,18% số phiếu.

          Đảng Những người Hy Lạp độc lập cánh hữu – ID đứng thứ 4 với 10,60% số phiếu.

          Đảng Cộng sản Hy Lạp đứng thứ 5 với 8,48% số phiếu.

          Đảng Bình minh vàng thuộc phe phát xít – cực hữu đứng thứ 6 với 6,97% số phiếu.

          Đảng Dân chủ cánh tả đứng thứ 7 với 6,11% số phiếu.

          Hiện các đảng phái Hy Lạp đang trong quá trình tham vấn, thành lập chính phủ liên minh.

         

IV. Kinh tế:

1. Tổng quan:

Hy Lạp là nước có nền kinh tế tư bản chủ nghĩa, tuy nhiên kinh tế nhà nước chiếm khoảng 40% GDP. Thế mạnh kinh tế Hy Lạp là vận tải đường biển và du lịch, Hy Lạp có đội thương thuyền đứng thứ 3 thế giới, kiểm soát 25% kim ngạch vận tải biển thế giới và có hệ thống đường sá, khách sạn, hải cảng, sân bay hiện đại. Hàng năm Hy Lạp thu hút khoảng 17 triệu lượt khách du lịch, đưa du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, đóng góp 15% GDP. Hy Lạp là nước nhận nhiều viện trợ từ EU, khoảng 3,3% GDP hàng năm.

Từ 19/6/2000, nhờ áp dụng các biện pháp kinh tế tài chính có hiệu quả, Hy Lạp đã đạt các tiêu chí của EU và được gia nhập khu vực đồng tiền chung Euro. Giai đoạn 2001-2006, Hy Lạp là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng cao nhất EU (4%/năm). Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng bắt đầu giảm dần, năm 2008 chỉ đạt 2,8%. Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, kinh tế Hy Lạp suy thoái nặng nề, nợ công và thâm hụt ngân sách ở mức báo động với tỉ lệ tương ứng 113% GDP và 13,6%, tỷ lệ thất nghiệp cao nhất EU (15%). Ngày 2/5/2010, EU và IMF thông qua thoả thuận cho Hy Lạp vay 110 tỉ Euro (146 tỉ USD) với lãi suất vay 5% trong vòng 3 năm để trang trải nợ. Để được vay, Hy Lạp phải cam kết cắt giảm thâm hụt ngân sách xuống còn 3% GDP vào năm 2014 theo quy định của EU. Dưới sức ép của EU và các tổ chức quốc tế, trong hơn một năm qua, chính phủ Hy Lạp đã đưa và đang thực thi một chương trình "thắt lưng buộc bụng" bao gồm cắt giảm chi tiêu công, tăng thuế, cải cách hệ thống y tế, cắt giảm việc làm và trợ cấp xã hội và tư nhân hoá các công ty nhà nước... , dẫn đến căng thẳng chính trị xã hội như các cuộc bãi công, biểu tình, bạo loạn.  

Lãnh đạo các nước EU đã đạt được thoả thuận cho Hy Lạp vay 130 tỷ Euro từ 2010 đến 2014 và các ngân hàng tư nhân châu Âu sẽ xóa 50% số nợ cho nước này (khoảng 100 tỷ Euro) nhằm giúp Hy Lạp củng cố năng lực tài chính và tiến tới giảm tỷ lệ nợ công từ 164% GDP (năm 2011) xuống 120% GDP vào năm 2020. Ngày 13/2/2012, Quốc hội Hy Lạp đã thông qua việc nhận gói cứu trợ 130 tỷ Euro của EU.

Năm 2012, tăng trưởng GDP của Hy Lạp vào khoảng -4,5 % (-4,4% năm 2010), tỉ lệ thất nghiệp cao 17%, nợ công 164% GDP năm 2011, lạm phát 2,9%.

- Các ngành kinh tế mũi nhọn: Du lịch, vận tải biển, đóng tàu, dệt, hóa chất, khai thác khoáng sản, dầu khí, chế biến thực phẩm, sản xuất thuốc lá...

- Các công ty, tập đoàn nổi tiếng:  Alpha Bank (ngân hàng), ANEK Lines, Attica Holdings, Euroseas, Danaos Corporation (vận tải biển), Domenico (thuốc lá), Hellenic Aerospace Industry (hàng không vũ trụ), Hellenic Petroleum (dầu khí)…

2. Thương mại:

- Xuất khẩu:

+ Kim ngạch:  26 tỷ USD (2012)

+ Mặt hàng: Thực phẩm, đồ uống, sản phẩm chế biến, hóa chất, sản phẩm hoá dầu, dệt may

+ Bạn hàng: Đức 10%, Italia 10,9%, Síp 7,3%, Bungari 6,5%, Thổ Nhĩ Kỳ 5,4%, Bỉ 5,1%, Trung Quốc 4,8%, Thụy Sĩ 4,5%, Ba Lan 4,2%.

-  Nhập khẩu:

+ Kim ngạch: 65,79 tỷ USD (2011)

+ Mặt hàng: máy móc, nhiên liệu, hoá chất, phương tiện vận tải;

+ Bạn hàng: Đức 10,6%%,  Italia 9,9%, Nga 9,6%, Trung Quốc 6,1%, Hà  Lan 5,3%, Pháp 4,9%, Áo 4,5%.

3. Đầu tư:

Trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (1960-1980), Hy Lạp chỉ chú trọng tới đầu tư trong nước nhưng từ những năm 1980, 1990 trở lại đây, Hy Lạp bắt đầu quan tâm đầu tư ra nước ngoài (FDI). Tổng FDI của Hy Lạp ra nước ngoài tính đến hết năm 2011 là 37 tỷ USD, chủ yếu tập trung tại các nước khu vực Balkan (Bulgaria, Romania, Albania, FYROM, Serbia…). Hy Lạp đứng thứ nhất trong số các nước đầu tư tại Serbia và FYROM, đứng thứ 2 tại Bulgaria (sau Áo) và tại Albania (sau Italia), chủ yếu trong các ngành: dịch vụ (ngân hàng, tài chính, viễn thông, bảo hiểm, du lịch), công nghiệp (chế biến thực phẩm, dệt may, xây dựng…).

Hy Lạp đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài vào Hy Lạp với nhiều chính sách ưu đãi đầu tư, đồng thời giao cho nhiều cơ quan phụ trách (Cơ quan phụ trách Đầu tư vào Hy Lạp, Bộ Ngoại giao, Bộ Phát triển, Phòng Thương mại và Công nghiệp Athens, Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ, Bộ Kinh tế và tài chính...). Tính đến hết năm 2011, vốn đầu tư nước ngoài vào Hy Lạp đạt 36 tỷ USD  (phần lớn từ các nước châu Âu như Đức, Pháp, Anh, Bỉ, Hà Lan, Italia, Síp..), tập trung vào các ngành: du lịch, năng lượng, hóa chất, viễn thông, ngân hàng.

4. Chính sách viện trợ phát triển:

Bộ Ngoại giao Hy Lạp là cơ quan chịu trách nhiệm phối hợp và giám sát các chương trình nhân đạo và viện trợ phát triển. Hy Lạp sử dụng 0,17% GDP để hỗ trợ phát triển chính thức cho các nước đang phát triển.

Lĩnh vực ưu tiên: thiên tai, phát triển giáo dục, năng lượng tái tạo và bảo tồn năng lượng, nuôi trồng thủy sản.

Các nước ưu tiên: Ai Cập, Ethiopia, Cộng hòa Dân chủ Congo, Bờ Biển Ngà, Nam Phi, Zimbabwe, Albania, Bosnia-Herzegovina, Serbia, Montenegro, FYROM, Azerbaijan, Armenia, Georgia, Moldova, Ukraine, Kazakstan, Jordan, Palestine, Syria./.

                                                                                        

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

QUAN HỆ VIỆT NAM - HY LẠP

-----

I. QUAN HỆ CHÍNH TRỊ:

Việt Nam và Hy Lạp thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 15/4/1975. Nhân dân Hy Lạp và Đảng Cộng sản Hy Lạp có thiện cảm đối với nhân dân Việt Nam, ủng hộ cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân ta. Đảng Cộng sản Hy Lạp nhiều lần ra tuyên bố lên án đế quốc Mỹ ném bom miền Bắc Việt Nam, tổ chức các cuộc mít tinh, biểu tình ủng hộ Việt Nam.

Tháng 3/2007, Hy Lạp mở Đại sứ quán tại Hà Nội.

Tháng 12/2010, Việt Nam mở Đại sứ quán tại Athens. Ngày 26/3/2012, Việt Nam chính thức khai trương Đại sứ quán.

Nhìn chung, quan hệ Việt Nam - Hy Lạp đã có những bước phát triển tích cực. Chính phủ Hy Lạp đánh giá cao công cuộc đổi mới của Việt Nam và bày tỏ mong muốn mở rộng quan hệ nhiều mặt với Việt Nam nhất là về kinh tế - thương mại và đầu tư. Tuy nhiên, trong thời gian qua các quan hệ này vẫn chưa phát triển so với tiềm năng và mong muốn của hai nước.

II. HỢP TÁC KINH TẾ:

       Quan hệ kinh tế Việt Nam-Hy Lạp còn khiêm tốn nhưng có nhiều tiềm năng. Kim ngạch thương mại Việt Nam- Hy Lạp trong 5 năm 2001-2006 đạt hơn 200 triệu USD và tăng nhanh trong thời gian qua. Năm 2011, kim ngạch hai chiều đạt khoảng 144 triệu USD; năm 2012 đạt 151 triệu USD.

       Việt Nam nhập khẩu từ Hy Lạp các mặt hàng: dược phẩm, máy móc, chất dẻo, đồ gỗ, sắt thép, vải vóc.... và xuất khẩu sang Hy Lạp các mặt hàng: giày dép, thủy sản, cà phê, cao su, hàng dệt may…

        Hy Lạp cho đến nay chưa có dự án đầu tư nào tại Việt Nam.

III. HỢP TÁC PHÁT TRIỂN:

        Hy Lạp chưa cung cấp viện trợ phát triển cho Việt Nam, nhưng đã có một số hoạt động hỗ trợ đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào lũ lụt, người khuyết tật, nạn nhân chất độc màu da cam... (xây trường học tại Huế trị giá 200.000 USD, ủng hộ 100.000 USD cho quỹ chất độc màu da cam, tặng 100 xe lăn cho Tổ chức hỗ trợ người khuyết tật Việt Nam ....).

 

IV. HỢP TÁC GIÁO DỤC - ĐÀO TẠO:

        Chính phủ Hy Lạp đã cấp học bổng 05 học bổng cho sinh viên Việt Nam theo học các khoá học tiếng Hy Lạp tại Athens.

V. GIỚI THIỆU CỘNG ĐỒNG NGƯỜI VIỆT:

        Có khoảng 300 người, tập trung chủ yếu tại Athens và một số đảo lớn của Hy Lạp, đến Hy Lạp phần lớn theo diện di tản năm 1979 và diện đoàn tụ gia đình các năm tiếp theo. Đa số kiều bào làm nghề kinh doanh ăn uống, buôn bán thực phẩm, may mặc, trồng trọt.

        Người Việt tại Hy Lạp có quan hệ cộng đồng chặt chẽ và khá bền vững, đa số có tinh thần yêu nước, gắn bó với quê hương.

VI. CÁC HIỆP ĐỊNH KHUNG ĐÃ KÝ GIỮA HAI NƯỚC:

- Hiệp định khung về hợp tác kinh tế, công nghiệp và công nghệ giữa hai nước (1996).

- Hiệp định khung về Hợp tác du lịch (2007).

- Hiệp định về hợp tác Văn hoá (2008).

- Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư (2008)

- Biên bản ghi nhớ về hợp tác giữa Bộ Ngoại giao hai nước (2008)

- Biên bản ghi nhớ về Hợp tác trong lĩnh vực năng lượng giữa Bộ Công Thương Việt Nam và Bộ Phát triển Hy Lạp (2008).

- Hiệp định Vận tải hàng không (2009).

VII. TRAO ĐỔI ĐOÀN CẤP CAO:

Đoàn ra:

+ 2/1998     Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Ngoại giao Nguyễn Mạnh Cầm.

+ 2/2005     Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Trung Thành.

+ 6/2008     Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết.

+ 6/2009     Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Gia Khiêm.

- Đoàn vào:

+ 8/1997      Tổng thư ký Bộ Ngoại giao Hy Lạp.

+ 10/2004     Bộ trưởng Ngoại giao Petro Moliviatis dự HNCC ASEM 5.

+ 5/2007       Thủ tướng Kostas Karamanlis.

+ 10/2008     Tổng thống Karolos Papoulias.

VIII. ĐỊA CHỈ ĐẠI SỨ QUÁN, LÃNH SỰ QUÁN CỦA VIỆT NAM VÀ HY LẠP:

1. Địa chỉ Đại sứ quán Việt Nam tại Hy Lạp:

50 Yakinthon, P. Psychiko, Athens 154-52, Hy Lạp.

Điện thoại: + 30 210 6128 733/6753 080. 

2. Địa chỉ Đại sứ quán Hy Lạp tại Việt Nam:

27-29 Âu Cơ, Tây Hồ, Hà Nội.

Điện thoại: + 84 4 3715 2254./.

 



[1] Thành viên Đảng Phong trào Xã hội (PASOK, nhậm chức Tổng thống Hy Lạp ngày 12/3/2005

Tạo bởi chauau
Cập nhật 28-12-2012

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer