Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ bẩy, ngày 01 tháng 11 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ VÀ QUAN HỆ VỚI VIỆT NAM

(International Labour Organisation - ILO) Trang web chính thức: www.ilo.org

I. KHÁI QUÁT VỀ TỔ CHỨC LAO ĐỘNG QUỐC TẾ:
1. Nguồn gốc:
Tổ chức lao động Quốc tế (ILO) được thành lập năm 1919, vào thời điểm Chiến tranh Thế giới Thứ nhất kết thúc. Khởi xướng việc thành lập ILO là ông Robert Owen - nhà công nghiệp xứ Wales (1771-1853), và ông Daniel Legrand-nhà công nghiệp người Pháp (1783-1859). Lúc mới thành lập, ILO là tổ chức độc lập liên kết với Hội Quốc Liên. Đến năm 1946, ILO ký Hiệp định quy định các mối quan hệ với Liên hợp quốc (LHQ) và trở thành tổ chức chuyên môn đầu tiên của LHQ. Từ năm 1920, ILO đóng Trụ sở tại Giơ-ne-vơ, Thuỵ Sỹ.
2. Thành viên của ILO:
Khi thành lập năm 1919, ILO chỉ có 45 nước tham gia. Đến nay, ILO đã có 180 quốc gia thành viên trong đó Brunây là thành viên trẻ nhất - vừa gia nhập ILO đầu năm 2007.
Nguồn kinh phí cho các hoạt động của ILO bao gồm: nguồn ngân sách thường xuyên do các nước thành viên ILO đóng góp niên liễm theo tỷ lệ của Liên hợp quốc, và các nguồn tài chính do các nhà tài trợ song phương và đa phương hỗ trợ.
3. Mục tiêu và hoạt động:
ILO được thành lập trên cơ sở ba mục tiêu cơ bản là mục tiêu nhân đạo (cải thiện điều kiện làm việc của người lao động); mục tiêu chính trị (đảm bảo công bằng xã hội và bảo vệ các quyền lao động và quyền con người sẽ tạo bình ổn xã hội); và mục tiêu kinh tế. Để thực hiện các mục tiêu trên, ILO xây dựng các tiêu chuẩn lao động quốc tế thông qua hình thức các Công ước (CW) và Nghị quyết trong đó qui định các tiêu chuẩn tối thiểu về quyền của người lao động (ví dụ quyền tự do thương hội, quyền được tổ chức và đàm phán tập thể, quyền xoá bỏ lao động cưỡng bức, không bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc và trong việc làm vv…). Đến nay (2/2007), ILO đã thông qua tổng cộng 187 Công ước và 197 Khuyến nghị. Trong số 187 CW trên, có 8 CW được coi là các Công ước cơ bản tập trung vào 4 lĩnh vực: Tự do lập hội và tổ chức; Chống lao động cưỡng bức; Xóa bỏ lao động trẻ em; Chống phân biệt đối xử. Các Công ước và Khuyến nghị của ILO được coi là cơ sở của Bộ luật lao động quốc tế.
4. Cơ cấu tổ chức:
ILO là một tổ chức quốc tế chuyên môn của LHQ. Đứng đầu ILO là 1 Tổng Giám đốc (TGĐ) với nhiệm kỳ 5 năm. TGĐ/ILO hiện nay là ông Juan Somavia (quốc tịch Chi Lê). Giúp việc TGĐ là các Phó TGĐ và Ban thư ký (xem biểu đồ đính kèm). Các cơ quan chính của ILO gồm: Hội nghị lao động quốc tế; Hội đồng quản trị; Văn phòng lao động quốc tế (Ban Thư ký); Các văn phòng khu vực; Các uỷ ban công nghiệp và các nhóm chuyên gia; Hai cơ quan hỗ trợ là Trung tâm Đào tạo Quốc tế và Học viện Quốc tế về Nghiên cứu Lao động.
- Hội nghị lao động quốc tế (International Labour Conference-ILC):
Hội nghị Lao động Quốc tế  (ILC) là sự kiện hàng năm quan trọng  nhất của ILO, vì thế còn có tên gọi khác là Đại hội đồng ILO. Các nội dung của ILC sẽ được lựa chọn luân phiên theo chủ đề của 4 cặp CW ILO cơ bản nêu trên. Do tính chất đặc thù, các nước thành viên cử đại biểu dự ILC bắt buộc phải gồm ba thành phần là chính phủ, đại diện giới lao động (giới thợ) và đại diện giới sử dụng lao động (giới chủ). Cả ba thành phần này có tiếng nói và quyền bầu cử bình đẳng như nhau tại ILC và tất cả các diễn đàn của ILO. Tại Đại hội đồng ILO, các đại biểu ba bên sẽ đánh giá các hoạt động của ILO trong năm trước; thảo luận và bổ sung các chính sách lao động; theo dõi việc các nước thực hiện các Công ước ILO; xem xét hủy bỏ các CW đã lỗi thời; thông qua ngân sách hoạt động của ILO (hai năm /lần) và quyết định mức niên liễm của các nước thành viên.
- Hội đồng Quản trị (Governing Body):
Hội đồng Quản trị (HĐQT) quản lý các hoạt động và quyết định chính sách của ILO trong thời gian giữa hai Hội nghị ILC. HĐQT họp 3 lần/ năm, gồm 2 khoá bàn về nội dung (vào tháng 3 và tháng 11) và 1 khoá bàn về tổ chức - họp ngay sau khi kết thúc khoá ILC thường niên để bàn về việc triển khai thực hiện các quyết định của  khoá họp này và chỉ kéo dài 1 ngày. HĐQT có các nhiệm vụ: xây dựng chương trình và ngân sách của ILO để trình ILC thông qua; bổ nhiệm Tổng Giám đốc với nhiệm kỳ 5 năm. Về cơ cấu, HĐQT có nhiệm kỳ 3 năm và gồm 56 thành viên chính thức và 66 phó thành viên - các Phó thành viên không có quyền bỏ phiếu tại HĐQT.
- Văn phòng Lao động Quốc tế (International Labour Office):
Văn phòng Lao động Quốc tế là Ban Thư ký của ILO, đồng thời là trung tâm nghiên cứu và xuất bản ấn phẩm của ILO. Ngoài Văn phòng Lao động Quốc tế tại Giơ-ne-vơ, Thuỵ Sỹ, hiện nay ILO có các Văn phòng chi nhánh và khu vực tại hơn 40 quốc gia trên thế giới.
- Trung tâm Đào tạo Quốc tế (International Training Centre) đóng tại Turin (Ý):
Bắt đầu hoạt động năm 1965, Trung tâm tập trung giảng dạy các chương trình liên quan chủ yếu đến các vấn đề cơ bản nhất của ILO nhằm mục đích hỗ trợ giới lao động và giới sử dụng lao động của các quốc gia thành viên về các vấn đề chính sách lao động, việc làm vv… Đến nay đã có khoảng 70,000 lượt người đến từ 172 quốc gia và vùng lãnh thổ được đào tạo tại Trung tâm.
- Học viện Quốc tế về Nghiên cứu Lao động (International Institute on Labour Studies) đóng tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sĩ:
 Các hoạt động chính của Học viện gồm: nghiên cứu quan hệ giữa các thể chế lao động, tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, tạo ra các diễn đàn về chính sách xã hội, giảng bài/tổ chức các khoá học và hội thảo, các chương trình thực tập liên quan đến nghiên cứu lao động.
5. Hình thức hỗ trợ của ILO:
Các quốc gia thành viên được ILO hỗ trợ dưới hình thức các chương trình, dự án do ILO điều hành. Các hoạt động trợ giúp khác là: tư vấn; nghiên cứu kỹ thuật; tăng cường năng lực, thể chế; đào tạo, thăm quan khảo sát, hội nghị/hội thảo về các chuyên đề liên quan đến chiến lược và chính sách lao động, việc làm. Mọi hoạt động trợ giúp của ILO đều phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản trong Điều Lệ ILO, đó là tôn trọng quyền cơ bản tại nơi làm việc; tạo thêm nhiều cơ hội cho phụ nữ cũng như nam giới có được việc làm đàng hoàng với thu nhập phù hợp và được bảo vệ về nhân phẩm.

II. CHÍNH SÁCH VÀ HOẠT ĐỘNG HIỆN NAY CỦA ILO
1. Chính sách chung của ILO:
Chính sách chung, xuyên suốt mọi hoạt động của ILO được qui định cụ thể trong Hiến Chương (ILO Constitution). Bộ Hiến Chương ILO được 9 thành viên Ủy Ban Lao động (Labour Commission) viết trong khoảng từ tháng Giêng đến tháng Tư năm 1919. Điểm nổi bật nhất trong Hiến chương là qui chế làm việc ba bên (Tripartie Organization) bao gồm đại diện của Chính phủ, Giới chủ và Giới thợ với tiếng nói bình đẳng tại tất cả các diễn đàn ILO. Đây là tổ chức quốc tế duy nhất trên thế giới làm việc theo cơ chế này.
 Hiến Chương qui định cụ thể các lĩnh vực hoạt động chính của ILO bao gồm: Tăng cường cơ hội cho phụ nữ cũng như nam giới có được việc làm phù hợp trong điều kiện được đảm bảo tự do, bình đẳng, an ninh và phẩm giá; Khuyến khích các nguyên tắc và quyền cơ bản ở nơi làm việc; Ủng hộ việc tạo thêm nhiều cơ hội cho phụ nữ cũng như nam giới có được việc làm và thu nhập hợp lý; Hỗ trợ việc mở rộng phạm vi hỗ trợ và nâng cao hiệu quả của công tác bảo trợ xã hội và đảm bảo việc tăng cường cơ chế ba bên và đối thoại. Toàn bộ các chính sách và hoạt động hỗ trợ của ILO đều được xây dựng dựa trên nền tảng của Bộ Hiến Chương này. Hiến chương cũng được các nước thành viên ILO bổ sung và sửa đổi cho phù hợp với điều kiện tình hình mới.
2. Phương hướng hoạt động hiện nay của ILO:
Năm 1998, Tổng Giám đốc ILO, Ông Juan Somavia đưa ra sáng kiến “Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững ” (Decent Work Agenda) nhằm khẳng định mạnh mẽ hơn nữa cam kết tôn trọng, xúc tiến và công nhận các quyền tự do nghiệp đoàn và thỏa ước tập thể của cả 3 bên Chính phủ, người sử dụng lao động và người lao động. Chương trình cũng yêu cầu các nước thành viên ILO cam kết hành động nhằm xóa bỏ hoàn toàn các hình thức lao động cưỡng bức, lao động bắt buộc, và xóa bỏ sự phân biệt đối xử trong việc làm và nghề nghiệp.
Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững được coi là tiêu chí và nền tảng cho mọi hoạt động của ILO hiện nay. Chương trình được tập trung hỗ trợ 6 lĩnh vực chính là (1) Cơ hội việc làm dành cho mọi đối tượng lao động; (2) Tự do lựa chọn việc làm; (3) Việc làm hiệu quả; (4) Công bằng trong việc làm; (5) An toàn và an sinh xã hội trong công việc; (6) Tôn trọng nhân phẩm người lao động. Các chiến lược, chính sách và phương hướng giúp đỡ của ILO hiện nay và thời gian tới đều phải đựơc xây dựng trên cơ sở các lĩnh vực nêu trên.
3. Các hình thức hỗ trợ hiện nay của ILO: Trên cơ sở chính sách chung qui định trong Điều lệ ILO và 6 nội dung cơ bản nêu trong Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững, ILO hỗ trợ các quốc gia thành viên thông qua các chương trình, dự án liên quan đến quan đến hỗ trợ hoạch định chiến lược, xây dựng chính sách lao động và việc làm đảm bảo phù hợp với ưu tiên của cả ILO và của quốc gia thành viên. Trên cơ sở các nguyên tắc trên, các lĩnh vực cụ thể được ILO ưu tiên trợ giúp là: (1) hỗ trợ đào tạo và tái đào tạo nghề; (2) xây dựng các chính sách việc làm; (3) quản lý lao động; (4) xây dựng luật lao động và quan hệ lao động; (5) cải thiện điều kiện làm việc; (6) phát triển quản lý; (7) xây dựng hôi, nghiệp đoàn; (8) bảo đảm an sinh xã hội; (9) tập hợp tư liệu về lao động, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp.
Nhìn chung, định hướng chiến lược các hoạt động của ILO thể hiện trong Chương trình Nghị sự về Việc làm Bền vững của Tổng Giám đốc ILO được các nước thành viên tích cực hưởng ứng. Hội đồng kinh tế xã hội của LHQ họp tháng 7/2006 đã dành thời gian Phiên Thảo luận Cấp cao để thảo luận và ủng hộ Chương trình này. Cho tới nay, các hoạt động hỗ trợ của ILO được đánh giá là hiệu quả, kịp thời và góp phần hỗ trợ tích cực các quốc gia trong lĩnh vực xây dưng chính sách lao động, cải thiện quan hệ lao động và điều kiện làm việc cho người lao động.

III. QUAN HỆ VIỆT NAM-ILO
1. Thông tin chung về quá trình hợp tác:
a. Sơ lược các mốc quan trọng trong quá trình hợp tác: 
- Năm 1982: Việt Nam rút khỏi ILO vì một số lý do kỹ thuật;
- Năm 1993: Việt Nam tái gia nhập ILO và hàng năm đóng niên niễm mức 0,021 tổng ngân sách ILO hàng năm (tương đương 62,125 Franc Suisse năm 2002; 72.368 FS  năm 2003 và 67.368 FS năm 2004);
- Năm 2000: Việt Nam phê chuẩn Công ước 182 “Cấm và hành động ngay lập tức loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất” (Quyết định số 169/QĐ/CTN ngày17/11/2000);
- Năm 2002: Việt Nam và ILO đã ký  Hiệp định thiết lập Văn phòng ILO tại Hà Nội (04/02/2002);
- Năm 2003: Việt Nam gia nhập Công ước số 138 qui định tuổi tối thiểu được đi làm việc (09/06/2003);
- Năm 2006: Chính phủ VN chấp thuận Văn kiện sửa đổi Điều lệ ILO bãi bỏ các Công ước đã lỗi thời (15/03/2006).
7/2006: Việt N và ILO ký Văn kiện Khuôn khổ hợp tác quốc gia Xúc tiến Việc làm Bền vững giai đoạn 2006-2010.
b. Về phía Việt Nam:
Chính phủ Việt Nam luôn giữ vững các cam kết với ILO. Trong nước, Chính phủ đã xây dựng các Bộ luật quan trọng như Bộ Luật Lao động, Dân sự, Hình sự.. nhằm tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo vệ quyền lợi cho người lao động. Các chính sách và các Bộ Luật được Chính phủ sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình mới, đồng thời cũng là để tương thích với các tiêu chuẩn lao động qui định trong các Công ước  (CW) của ILO mà Việt Nam là thành viên. Đến nay Việt Nam đã phê chuẩn 16/187 Công ước của ILO, trong đó có 5/8 CW cơ bản gồm: CW số 100 về trả công bình đẳng giữa lao động nam và nữ cho loại công việc có giá trị ngang nhau; CW số 111 về chống phân biệt đối xử tại nơi làm việc; CW số 138 qui định tuổi tối thiểu được đi làm việc và CW  số 182 về cấm và hành động ngay lập tức loại bỏ các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, và CW 29 về chống lao động cưỡng bức.
Hiện nay Việt Nam và ILO tiếp tục xây dựng Chương trình Tạo việc làm cho Thanh niên Việt Nam đến năm 2010. Bộ lao đông Thương binh và Xã hội cũng đang cùng các cơ quan liên quan đang xem xét khả năng trình Chính phủ việc ta tham gia hai CW cơ bản về chống lao động cưỡng bức (CW số 29 và 105).
Hàng năm  Chính phủ Việt Nam đều cử đoàn cấp cao dự Đại hội đồng ILO với đủ ba thành phần là Chính phủ, Phòng Thương Mại và công nghiệp Việt Nam, Liên minh HTX Việt Nam và Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam. Việt Nam cũng có nhiều đóng góp tích cực vào Hội đồng Quản trị ILO, do vậy, năm 2002, Việt Nam được các nước thành viên ILO nhất trí bầu vào vị trí Phó thành viên 3 Hội đồng Quản trị ILO giai đoạn 2002-2005. Năm 2005, ta được bầu vào vị trí Phó thành viên 3 (2005-2008).
 Việc Việt Nam được bầu làm Phó thành viên HĐQT-cơ quan đầu não của ILO - có ý nghĩa quan trọng và hiện nay, Chính phủ đã quyết định tiếp tục lộ trình vận động Ứng cử vị trí Phó thành viên 1 giai đoạn 2008-2011 và tiến tới ứng cử vị trí Phó thành viên chính thức (Titular Member) giai đoạn 2011-2014.

c. Về phía ILO:
Hoạt động của ILO tại Việt Nam đã tăng lên đáng kể đặc biệt từ giữa những năm 1990 trở lại đây. Các hỗ trợ của ILO tập trung giúp Chính phủ hoạch định chiến lược và chính sách về lao động, việc làm nhằm giúp cải thiện điều kiện sống và điều kiện làm việc của người lao động. Theo tinh thần “Chương trình nghị sự việc làm bền vững” (Decent Work Agenda), trong thời gian tới ILO sẽ tập trung hỗ trợ cho công tác ngăn chặn và xoá bỏ tình trạng lao động trẻ em, tăng cường bình đẳng nam nữ, phát triển các doanh nghiệp, bảo trợ xã hội, an toàn và sức khoẻ nghề nghiệp, thúc đẩy các mối quan hệ lao động và đối thoại xã hội. Nhìn chúng, các hoạt động hợp tác đều  gắn với các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Chính phủ và phù hợp với bốn mục tiêu chiến lược về chương trình việc làm của ILO.
2. Các lĩnh vực và hình thức hợp tác chủ yếu:
ILO giúp Việt Nam chủ yếu thông qua các chương trình, dự án và các hoạt động tăng cường thể chế nhằm nâng cao năng lực trong lĩnh vực quản lý lao động và việc làm. Nguồn ngân sách ILO hỗ trợ cho Việt Nam khoảng 2,5 triệu USD giai đoạn 1999-2002. Đến cuối năm 2003, tổng số vốn tài trợ tăng lên khoảng 5,7 triệu USD. Tại Hội nghị Tư vấn các Nhà tài trợ cuối năm 2003 tại Hà Nội, ILO đã cam kết tài trợ thêm cho Việt Nam 2,7 triệu đô la. Kể từ năm 2006 trở đi, các hoạt động hợp tác Việt Nam-ILO sẽ tập trung vào các nội dung cơ bản của Chương trình nghị sự việc làm bền vững hai bên ký kết 7/2006. Dưới đây là một số chương trình, dự án đang được ILO phối hợp với các cơ quan trong và ngoài nước thực hiện từ năm 2000 đến nay:
- Dự án "Xây dựng năng lực Tư vấn kinh tế, xã hội cho phụ nữ", tổng ngân sách 500.000 USD, kết thúc năm 2002;
- Dự án "Khởi sự và tăng cường khả năng kinh doanh", tổng ngân sách 1.048.499 USD kết thúc năm 2004;
- Dự án "An toàn lao động và hệ thống thanh tra lao động hợp nhất", tổng ngân sách 440.000 USD, kết thúc năm 2004;
- “Chương trình khởi sự và tăng cường khả năng kinh doanh (SIYB)”  giai đoạn 1 (11/1998-12/2004);
- Dự án an toàn lao động và thanh tra lao động hợp nhất 2001-2005;
- Dự án “Mở rộng chương trình tài chính và bảo hiểm vi mô cho lao động nữ khu vực phi chính thức” kết thúc năm 2006;
- Dự án ILO/Chính phủ Pháp về mở rộng chương trình tài chính và bảo hiểm vi mô cho lao động nữ trong khu vực kinh tế phi chính thức (5/2003-12/2006) với Ngân sách Dự án khoảng 415.743 đôla Mỹ;
- Chương trình quốc gia phòng ngừa và xóa bỏ lao động trẻ em tại Việt Nam (IPEC) :2001-2006;
- Dưn án tăng cường quan hệ lao động ILO-Việt Nam: 1/2003-6/2006;
- Dự án ngăn ngừa buôn bán phụ nữ và trẻ em ở cấp cộng đồng tại Việt Nam (TICW): 4/2005-10/2006;
- Dự án tăng cường năng lực an toàn và vệ sinh lao động trong nông nghiệp tại Việt Nam (5/2004-4/2007);
-  “Chương trình cải tiến doanh nghiệp Việt Nam-FIP”: Giai đoạn 1 đã kết thúc 7/2006 và giai đoạn 2 được tiến hành từ 8/2006-12/2007 ;
- Chương trình phòng chống AIDs tại nơi làm việc: 2006-2007;
- Dự án ILO/Bộ phát triển quốc tế Anh về “Hỗ trợ phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em tại Việt Nam” (5/2005-5/2008);
- Dự án ILO/Luých-Xăm-Bua về nâng cao năng lực huấn luyện an toàn vệ sinh lao động tại Việt Nam (7/2006-12/2008);
- Dự án giảm nghèo thông qua trợ giúp tổng thể phát triển doanh nghiệp nhỏ (PRISED) 2005-2009;
- Dự án “Khuôn khổ hợp tác quốc gia xúc tiến việc làm bền vững tại Việt Nam giai đoạn 2006-2010;”
- Hiện nay ILO và Chính phủ Việt Nam đang tích cực hoàn chỉnh Dự án tạo việc làm cho Thanh niên Việt Nam đến năm 2010.
3. Việt Nam tham gia các Công ước ILO:
Đến nay (2/2007), Việt Nam đã phê chuẩn 16/187 Công ước (CW) của ILO, trong đó có 5/8 Công ước cơ bản (Công ước số 100 và Công ước số 111 về quyền bình đẳng nam nữ trong công việc và trả công lao động; Công ước số 182 và Công ước 138 về lao động trẻ em; CW số 29 về chống lao động cưỡng bức). Trong thời gian tới, Chính phủ Việt Nam đang xem xét việc phê chuẩn thêm hai Công ước là CW số 105 về chống lao động cưỡng bức và CW số 184 về an toàn sức khỏe lao động nông nghiệp.

(tháng 7/2007)

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer