Trang chủ     Đăng ký nhận tin    Ý kiến bạn đọc   Liên kết website English 
Thứ ba, ngày 29 tháng 07 năm 2014 Tìm kiếm
 Tìm kiếm nâng cao

Định hướng của Đảng về Ngoại giao Văn hoá trong tình hình mới

Đồng chí Nguyễn Bắc Son - Uỷ viên Trung ương Đảng

Chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước là sự kế tục tư tưởng đối ngoại của Chủ tịch Hồ Chí Minh và truyền thống ngoại giao Việt Nam, là sự tiếp tục đường lối đối ngoại trong thời kỳ đổi mới với điểm tựa quan trọng là văn hóa. Tuy chưa có cụm từ “Ngoại giao văn hóa” trong các nghị quyết của Đảng, nhưng gần đây qua các tham luận, các bài phát biểu, nhiều đồng chí Lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã nói đến “Ngoại giao Văn hóa”. Bản chất của ngoại giao đã là hoạt động văn hóa; và thực tế, ngoại giao văn hóa có lịch sử phát triển lâu đời xuất phát từ đặc trưng văn hóa hàng ngàn năm lịch sử của dân tộc, từ nhu cầu trong quá trình dựng nước và giữ nước, trong xây dựng và phát triển quan hệ hòa bình, hữu nghị, hợp tác với các quốc gia. Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến mặt trận này. Cùng với ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế, văn hóa với nhiệm vụ là “nền tảng tinh thần”, “động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội” đã chung sức, cộng hưởng, tạo thế chân kiềng vững chãi, làm một trong 3 cột trụ không thể tách rời trong tổng thể chính sách đối ngoại, góp phần thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, rộng mở, đa phương hoá, đa dạng hoá các quan hệ quốc tế với tinh thần “Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước trong cộng đồng quốc tế, tham gia tích cực vào tiến trình hợp tác quốc tế và khu vực” (1).

- Thưa các đồng chí

Định hướng của Đảng về công tác đối ngoại, trong bài phát biểu tại phiên khai mạc Hội nghị quan trọng này, sau khi đánh giá kết quả, thành tựu hoạt động đối ngoại của nước ta trong nửa nhiệm kỳ qua, biểu dương những đóng góp quan trọng của ngành ngoại giao, vừa là cơ quan tham mưu, vừa là cơ quan chủ lực trong tổ chức thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước theo tinh thần Nghị quyết Đại hội X; Tổng Bí thư đã tiếp tục khẳng định chính sách đối ngoại đúng đắn của Đảng và chỉ rõ những định hướng, nhiệm vụ lớn mà công tác đối ngoại của đất nước phải quán triệt và thực hiện tốt trong thời gian tới trên các lĩnh vực cả ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hoá.

Được sự phân công của Lãnh đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, tôi xin phát biểu góp phần cụ thể hoá một số nội dung về “Ngoại giao Văn hóa” của nước ta trong thời gian tới như” về định hướng văn hoá, chính sách giao lưu văn hoá của Đảng ta đã được khẳng định trong các văn kiện của Đảng; Chủ tịch Hồ Chí Minh – Nhà Ngoại giao Văn hóa vĩ đại của cách mạng Việt Nam; một số nội dung cần được quan tâm trong thực hiện gnoại giao văn hoá.

- Thưa các đồng chí!

Nhân loại đang đi vào những năm đầu của thế kỷ 21, với những thách thức và những kỳ vọng, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, văn hóa luôn luôn là mục tiêu và động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Sự phát triển của đường lối văn hóa văn nghệ theo từng thời kỳ đều phù hợp với yêu cầu của cách mạng. Tất cả quan điểm đều nhất quán theo nguyên lý chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH cũng như mục tiêu xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quan điểm chỉ đạo đường lối văn hóa văn nghệ luôn gắn chặt với yếu tố dân tộc. Ngay từ năm 1943, Đảng ta đã ban hành "Đề cương văn hóa", thể hiện rõ quan điểm phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng với phương châm: Dân tộc, khoa học và đại chúng. Trong công cuộc đổi mới, đứng trước nhu cầu giao lưu văn hóa quốc tế, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến văn hóa từ hình thức đến nội dung, từ tư tưởng đến chất lượng sáng tác, từ ý thức bảo tồn văn hóa dân tộc đến việc chắt lọc tiếp thu tinh hoa văn hóa thế giới. Vì thế, các văn kiện Đại hội Đảng VI, VII, VIII, IX và X đều thể hiện quan điểm nhất quán của Đảng trong nhìn nhận, đánh giá, chỉ đạo phát triển văn hóa. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VII (1991) khẳng định: “Tiếp tục bảo tồn và phát triển sự nghiệp văn hóa, bảo tồn và phát huy truyền thống văn hóa tốt đẹp các dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại”. Văn kiện Hội nghị TW 6 (khóa VII) viết: “Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, thể hiện tầm cao và chiều sâu về trình độ phát triển của một dân tộc; là sự kết tinh những giá trị tốt đẹp nhất trong quan hệ giữa người với người, với xã hội, vừa là mục tiêu của chúng ta”. Đặc biệt, Nghị quyết Trung ương V (khóa VIII) về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” được coi là văn kiện chuyên đề văn hóa đầu tiên của Đảng, sau Đề cương về văn hóa Việt Nam, đây là một Nghị quyết đã “trúng ý Đảng, hợp lòng dân”. Nghị quyết đặt ra chiến lược xây dựng và phát triển văn hóa trong thời kỳ CNH-HĐH với 5 quan điểm, 10 nhiệm vụ, 4 giải pháp lớn. Trong đó, mở rộng hợp tác quốc tế về văn hoá là một nhiệm vụ đã được nhấn mạnh trong Nghị quyết “Làm tốt việc giới thiệu văn hoá đất nước và con người Việt Nam với thế giới; tiếp thu có chọn lọc các giá trị nhân văn, khoa học, tiến bộ của nước ngoài. Phổ biến những kinh nghiệm tốt xây dựng và phát triển văn hoá của các nước. Ngăn ngừa sự thâm nhập các sản  phẩm văn hoá phản động, đồi truỵ”. Nghị quyết đã đề cập đến giải pháp xây dựng ban hành các chính sách cụ thể về hợp tác quốc tế trong lĩnh vực văn hoá “Đa dạng hoá, đa phương hoá các mối quan hệ về văn hoá (Nhà nước, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân) nhằm tiếp thu được nhiều tinh hoa, kinh nghiệm của nước ngoài, ngăn ngừa những tác động tiêu cực”(2). Có thể nói ở Nghị quyết này, với những chủ trương và những định hướng lớn về chính sách văn hoá của Đảng đã tạo những điều kiện thuận lợi cho việc triển khai hoạt động văn hoá nói chung và ngoại giao văn hoá nói riêng,

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ X cũng đã nêu "Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, góp phần đẩy mạnh CNH-HĐH và hội nhập kinh tế quốc tế. Đảm bảo sự gắn kết giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội. Đặc biệt nâng cao văn hóa lãnh đạo và quản lý văn hóa trong kinh doanh và văn hóa trong nhân cách của thanh niên, thiếu niên; chống những hiện tượng phản văn hóa, phi văn hóa; xác định nhiệm vụ "làm cho văn hoá thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, tạo ra chất lượng mới của cuộc sống, xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH-HĐH" (1).

Đẩy mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh. Bồi dưỡng các tài năng văn học khuyến khích sáng tạo nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật.
Không chỉ đề ra các định hướng về văn hoá, mà Đảng ta còn chỉ ra những chính sách, những định hướng rất cụ thể về giao lưu văn hoá. Đó chính là những cơ sở quan trọng cho việc thực hiện ngoại giao văn hoá.

Đại hội Đảng X đã xác định chính sách ngoại giao văn hóa là “Mở rộng giao lưu văn hóa, thông tin với thế giới”(1).

Giữa hoạt động ngoại giao và bản sắc văn hóa dân tộc có mối liên quan chặt chẽ. Chính sách đối ngoại của mỗi dân tộc ít nhiều đều chịu ảnh hưởng và sự chi phối bởi chính nền văn hóa của dân tộc đó. Trong quá trình phát triển, mỗi nền văn hóa đều tiếp xúc, giao lưu và đối thoại với nhiều nền văn hóa khác nhau. Giao lưu văn hóa nhằm tăng cường nâng cao sự hiểu biết và nhận thức về những giá trị chung của toàn nhân loại và tôn trọng sự khác biệt của từng dân tộc. Đồng thời tạo cơ hội cho các nền văn hóa hợp tác cùng chung sống hòa bình vì sự phát triển bền vững. Quá trình tiếp xúc, giao lưu và đối thoại văn hóa, giá trị văn hóa của mỗi cộng đồng nhờ đó được phong phú, sáng tạo hơn. Chính sự đa dạng của các nền văn hóa đã làm nảy sinh nhu cầu giao lưu và đối thoại văn hóa. Ngày nay, không một dân tộc trên thế giới nào tồn tại tách biệt mà không có sự giao lưu văn hoá với các dân tộc khác. Sự giao lưu văn hoá là nhu cầu nội tại của sự phát triển văn hoá. Một nền văn hoá “không có sự giao lưu thì sẽ xơ cứng, mất sức sống, dần dần tàn lụi và chủ nhân của nó sớm muộn cũng sẽ biến khỏi vũ đài lịch sử”(3). Sự giao lưu và tiếp biến văn hóa mở ra những cơ hội mới cho các cộng đồng hiểu nhau và cho chính mỗi cộng đồng hiểu rõ mình. Do vậy sự tương tác giữa các nền văn hóa là một thuộc tính và là tiền đề cho sự phát triển xã hội. 

 Việt Nam có một nền văn hoá đặc sắc, lâu đời gắn liền với lịch sử hình thành và phát triển của dân tộc, truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm. Nằm ở giữa hai trục Bắc Nam và Đông Tây, ngã tư đường của các nền văn minh Trung Hoa và Ấn Độ, chúng ta có vị trí địa lý thuận lợi cho việc giao lưu văn hoá. Việc tiếp nhận văn hoá ở nước ta diễn ra xuyên suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, ngày cả trong các thời kỳ chịu sự đô hộ của các triều đại phong kiến phương thức cưỡng chế, áp đặt, âm mưu đồng hoá hay tiếp thu tự nguyện. Nhưng dù theo cách nào, thì bản sắc dân tộc là cơ sở quan trong, nguồn sức mạnh, điểm tựa quý báu để Việt Nam đến với thế giới, hoà đồng, thiếp thu, tiếp nhận mà không mất đi bản sắc văn hoá dân tộc.

Hình thành trên nền của văn hóa bản địa Nam Á và Đông Nam Á, trải qua hàng ngàn năm giao lưu với văn hóa khu vực, văn hoá Việt Nam dù tiếp thu với nhiều nền văn hoá khác, nhưng vẫn mang bản sắc riêng thống nhất trong đa dạng của 54 dân tộc, với phổ hệ xã hội là gia đình, làng xã và đất nước; với hoàn cảnh thường xuyên phải chống giặc ngoại xâm; với tinh thần đoàn kết, gắn bó cộng đồng, trọng tình, ứng xử mềm dẻo, khoan dung hòa hiếu, hướng tới sự hài hòa…Tất cả là nét tâm lý chủ đạo và đồng thời cũng là bản sắc văn hóa Việt Nam. Nghị quyết TW5 (khóa VIII) khẳng định “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước. Đó là lòng yêu nước nồng nàn, ý chí tự lực tự cường của dân tộc, tinh thần đoàn kết, ý thức cộng đồng gắn kết cá nhân, gia đình, làng xã, Tổ quốc; lòng nhân ái, khoan dung trọng nghĩa tình, đạo lý, đức tính cần cù, sang tạo trong lao động; sự tinh tế trong ứng xử, tính giản dị trong lối sống”(2).

Bản sắc văn hóa Việt Nam là nguồn lực và thế mạnh của đất nước có cội nguồn từ nền văn hóa nông nghiệp lúa nước, được tôi luyện vững bền trong cả quá trình lịch sử lâu dài, không bị văn hoá phương Bắc đồng hoá, đủ sức tiếp biến thành công văn hóa phương Tây và sẵn sàng hội nhập văn hóa trong khu vực và thế giới trong thời đại ngày nay. Động lực để Việt Nam thực hiện giao lưu văn hoá mà không làm mất đi bản sắc văn hoá dân tộc chính là lòng yêu nước, ý chí tự tôn dân tộc cùng với khát vọng hòa bình, mong muốn tiến kịp văn minh nhân loại, sự bao dung, hoà đồng, mềm dẻo, linh hoạt...Sự từng trải của dân tộc qua xung đột và giao lưu là thế mạnh nổi trội nhất của Việt Nam. Nói cách khác, đó là sự không chối từ trong việc tiếp thu tinh hoa văn hoá nước ngoài trên nền tảng của tư tưởng độc lập dân tộc.

Cuộc giao thoa văn hoá với phương Tây đã đem đến cho văn hoá Việt Nam những lớp phù sa văn hoá mới. Bên cạnh triều đại có tư tưởng tiến bộ, mở cửa tiếp nhận văn hoá thế giới, vẫn có những triều đại chối bỏ con đường tiếp cận văn minh nhân loại để cố thủ trong sự nghiệp bảo vệ độc lập dân tộc với những quan niệm hết sức lạc hậu. Thời đại Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hồ Chí Minh và những người chiến sĩ yêu nước tiến bộ đã xác lập mối quan hệ biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước và đòi hỏi tiến kịp văn minh nhân loại để cuối cùng bắt gặp chủ nghĩa Mác - Lênin, đỉnh cao của tư tưởng nhân loại, tạo ra sự kết hợp hài hoà giữa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam và chủ nghĩa Mác - Lênin, phục sinh sức mạnh dân tộc, đập tan xiềng xích chủ nghĩa thực dân, đưa nước nhà tiến tới vận hội mới. Người đã nói “Văn hóa của các dân tộc khác cần phải nghiên cứu toàn diện, chỉ có trong trường hợp đó mới có thể tiếp thu được nhiều hơn cho văn hóa của chính mình”, “Mỗi một dân tộc cần phải chăm lo đặc tính dân tộc trong nghệ thuật”. Chính vì thế, Lãnh tụ Hồ Chí Minh được đánh giá là "Con người hiện đại tiêu biểu nhất cho Việt Nam"(4). 

 Tư tưởng chỉ đạo văn hóa của đất nước ta là nhằm tạo ra gia tốc ngày càng lớn cho sự phát triển kinh tế xã hội, nó là chìa khóa để đất nước ta phát triển toàn diện về mọi mặt, xây dựng đất nước giàu đẹp, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, đồng thời tự khẳng định vị thế của mình trong quá trình hội nhập. Hoạt động ngoại giao của Đảng và Nhà nước, vì thế, không thể tách rời ngoại giao văn hoá. 

 Đất nước ta đang đứng trước những thời cơ, vận hội. Chúng ta đang hội nhập sâu rộng vào khu vực và quốc tế, từng bước nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới. Việt Nam đang được bạn bè quốc tế khắp năm châu quan tâm và mong muốn phát triển quan hệ hợp tác. Nhiệm vụ đặt ra cho Ngoại giao Việt Nam là giữ vững môi trường hòa bình, tạo các điều kiện quốc tế thuận lợi cho công cuộc đổi mới, đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội, CNH-HĐH đất nước, xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Trong 3 trụ cột: Ngoại giao chính trị, ngoại giao kinh tế và ngoại giao văn hóa thì ngoại giao văn hóa có vai trò hết sức quan trọng vì nó vừa là nền tảng tinh thần vừa là biện pháp và mục tiêu của chính sách đối ngoại Việt Nam; nó bổ trợ rất hữu hiệu cho các trụ cột ngoại giao chính trị và ngoại giao kinh tế; tạo thành một chỉnh thế chính sách đối ngoại phát huy tốt nhất sức mạnh dân tộc và kết hợp hiệu quả với sức mạnh thời đại. Sự trân trọng các giá trị văn hoá trong công tác ngoại giao trở thành nhịp cầu nối để vượt qua những khác biệt, đưa các dân tộc xích lại gần nhau, cùng giải quyết những vấn đề chung của mỗi quốc gia, dân tộc và chung tay giải quyết các vấn đề toàn cầu. 

 - Thưa các đồng chí! Đúng như trong bài Điếu văn năm 1969, Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định: “Dân tộc ta, đất nước ta đã sinh ra Chủ tịch Hồ Chí Minh; và chính Người đã làm rạng rỡ non sông đất nước ta”

Đối với nền Ngoại giao cách mạng nước nhà, Chủ tịch Hồ Chí Minh hông chỉ là người thầy, người sáng lập, mà chính Người còn là một nhà ngoại giao văn hoá vĩ đại của cách mạng Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh - vị lãnh tụ vĩ đại, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hoá thế giới đã có nhiều đóng góp toàn diện vừa sâu sắc trên lĩnh vực văn hoá và cũng là vị lãnh tụ sớm đề cập đến khái niệm văn hoá, Người đã viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn học. Văn hoá là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”(5).

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng ở trong nước và ngoài nước, Người đã vận dụng văn hóa trong hoạt động ngoại giao một cách khéo léo, linh hoạt và mềm dẻo. Di sản lớn nhất trong đường lối ngoại giao của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là sự gắn bó giữa tinh thần yêu nước với đặc điểm văn hóa dân tộc; giữa kinh nghiệm hoạt động ngoại giao của cha ông với kinh nghiệm ngoại giao của thế giới. Hồ Chí Minh nhận thức sâu sắc vai trò của văn hoá đối với sự nghiệp cách mạng nói chung và đối với công tác ngoại giao Việt Nam nói riêng. Người đã kết hợp được một cách chặt chẽ và biện chứng giữa văn hoá với cách mạng. Văn hoá theo Người phải vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp cách mạng. Vì vậy, khi nói về Đảng ta, Người khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh- Là thống nhất, độc lập, là hoà bình, ấm no”.

Là người sáng lập nền ngoại giao Việt Nam hiện đại (28/8/1945), người thừa hưởng chính sách khoan dung, hòa hiếu của ông cha trong hoạt động ngoại giao, vận dụng một cách sáng tạo 2 yếu tố nổi bật trong văn hóa Việt Nam là Nhân và Trí và nâng cao trong chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam. Trên cương vị mới, trước quốc dân đồng bào, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. Đây không chỉ là áng văn chính luận đặc sắc, văn kiện lịch sử vô giá, mà còn là văn kiện ngoại giao văn hoá, nhằm khẳng định thông điệp quan trọng với toàn thế giới về một “Nước Việt Nam có quyền được hưởng tự do, độc lập và thật sự đã trở thành một nước tự do, độc lập”. Thông điệp quyền tự chủ đó là sự tiếp nối truyền thống của ông cha. Thế kỷ XV, Nguyễn Trãi đã khẳng định trong Cáo Bình ngô: “Như nước Đại Việt ta từ trước-Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”.

Người đã trở thành một nhà ngoại giao văn hoá xuất sắc với những nguyên lý và nội dung cơ bản, phương pháp, phong cách và nghệ thuật có nguồn gốc vững bền là chủ nghĩa yêu nước, truyền thống văn hoá, tinh hoa văn hoá, kinh nghiệm ngoại giao thế giới và thế giới quan, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lênnin; giữa “sự mềm dẻo trong chiến thuật với sự đanh thép trong nguyên lý” (Trường Chinh).

Chính vì thế, nhân dân Việt Nam và loài người trên thế giới biết đến danh nhân văn hoá Hồ Chí Minh không chỉ với tư cách là người sáng tạo ra các công trình văn hoá kiệt xuất, hay với tư cách là nhà lãnh đạo có nhiều công lao thúc đẩy sự phát triển văn hóa dân tộc mà nhân dân Việt Nam và loài người trên thế giới còn biết đến Hồ Chí Minh bởi vì Người đã tạo ra được nhiều biểu tượng, hình mẫu về văn hóa đặc sắc; biểu tượng văn hoá kiệt xuất của một lãnh tụ chính trị, người đứng đầu Đảng, Nhà nước. Hồ Chí Minh còn là nguời xây dựng, phát triển và hiện thực hoá các giá trị văn hoá của một nhà nước của dân, do dân, vì dân. Trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn quan tâm và phát huy sức mạnh lớn nhất của dân tộc là văn hoá. Người đã khẳng định chắc chắn điều đó trước sự tấn công, xâm lược kẻ thù “Chúng ta lấy văn minh để chiến thắng dã man”.

Trong những giai đoạn và thời khắc lịch sử, đường lối và chính sách đối ngoại của Đảng đi tới thành công là bởi đã vận dụng triệt để tư tưởng ngoại giao văn hoá của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Về một số nội dung cần đẩy mạnh của ngoại giao văn hoá trong thời gian tới: 

- Các cơ quan ngoại giao trong và ngoài nước, các cán bộ làm công tác ngoại giao, các lực lượng làm công tác thông tin đối ngoại và mọi cán bộ, đảng viên, các tổ chức, đoàn thể chính trị, tổ chức chính trị-xã hội và mỗi công dân Việt Nam cần tận dụng mọi cơ hội, tăng cường giới thiệu với bạn bè quốc tế về đường lối xây dựng văn hoá dân tộc của Đảng hiện nay: đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội, trước hết là trong các tổ chức Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và trong từng cá nhân, gia đình, thôn xóm, đơn vị, tổ chức cơ sở. Những nét mới trong chuẩn mực văn hoá và trong nhân cách con người Việt Nam thời kỳ CNH–HĐH. Gắn chặt nhiệm vụ xây dựng văn hoá với nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng thông qua cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Cụ thể hoá các chuẩn mực đạo đức, lối sống cho phù hợp với từng đối tượng cụ thể. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và cải cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng.

- Giới thiệu với bạn bè quốc tế về phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam theo 5 đức tính:
 Đức tính thứ nhất: "Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội".
 Đức tính thứ hai: "Có ý thức tập thể, đoàn kết, phấn đấu vì lợi ích chung".
 Đức tính thứ ba: "Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái".
 Đức tính thứ tư: "Lao động chăm chỉ vì lương tâm nghề nghiệp, có kỹ thuật, sáng tạo".
 Đức tính thứ năm: "Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm mỹ và thể lực".
 Năm đức tính của con người Việt Nam đã được Đảng ta xây dựng và xác định có thể coi đó là "cương lĩnh đạo đức công dân", trong đó các yếu tố quan trọng là yêu nước, tuân thủ pháp luật, đức sáng, thành tín, đoàn kết, làm việc thiện, cần kiệm, tự cường, yêu nghề và hiến thân. Đó là nét văn hóa trong các đức tính tốt đẹp của con người Việt Nam trong thời kỳ phát triển mới.

- Giới thiệu với bạn bè quốc tế về đời sống văn hoá cơ sở, nhất là cộng đồng dân cư: môi trường văn hoá lành mạnh, tốt đẹp, phong phú; giới thiệu nền văn hoá thống nhất trong sự đa dạng của 54 dân tộc anh em; giới thiệu các thành tựu văn hoá, các công trình văn hoá, các tài năng văn hoá, các văn, nghệ sĩ sáng tạo được nhiều công trình văn hoá - nghệ thuật tiêu biểu có giá trị cao về tư tưởng và nghệ thuật, tương xứng với sự nghiệp cách mạng của dân tộc và công cuộc đổi mới. Mở rộng các chương trình giao lưu văn hóa đến bạn bè quốc tế: mời các họa sĩ, những nghệ sĩ trình diễn, và các nhà văn, giới thiệu nét đặc sắc của nền văn hoá dân tộc. Thông qua đó góp phần nâng cao hình ảnh, vị thế của đất nước trong tiến trình hội nhập quốc tế, tăng cường sự hiểu biết, tình hữu nghị, tạo dựng lòng tin thúc đẩy hợp tác hữu nghị về nhiều mặt giữa Việt Nam với các nước.

- Chú ý tìm tòi những loại hình, mô hình hoạt động ngoại giao trên lĩnh vực văn hoá đạt hiệu quả: Cơ chế hợp tác quốc tế về văn hóa, các hoạt động liên ngành về văn hóa, hợp tác với bạn tổ chức chung các sự kiện văn hóa, xây dựng các công trình văn hóa, lịch sử của Việt Nam ở nước ngoài, giao lưu trao đổi đoàn nghệ thuật, các hoạt động văn hóa trong khuôn khổ các văn bản, hiệp định và cam kết song phương và đa phương, hoạt động văn hóa gắn với xúc tiến đầu tư kinh tế, thương mại…

- Thông qua giao lưu văn hoá, đối thoại văn hoá, tiếp thu (có chọn lọc) những giá trị cao đẹp của văn hoá thế giới làm phong phú nền văn hoá dân tộc.
- Trên cơ sở giao lưu văn hoá, tranh thủ sự hợp tác rộng rãi trên nhiều lĩnh vực, nhất là kinh tế góp phần làm cho “dân giàu, nước mạnh”.
- Giúp đỡ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết tình hình nước nhà, thu nhận thông tin và sản phẩm văn hoá từ trong nước ra; có các chính sách vµ c¸c hoạt động để thu hút sự tham gia của họ nhằm gắn kết cộng đồng, phát huy trí tuệ, tài năng sáng tạo, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước.
- Đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền và văn hoá đối ngoại, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, sự hợp tác và tình hữu nghị giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước, góp phần làm cho bạn bè thế giới hiểu rõ hơn về công cuộc Đổi mới, về đất nước và con người Việt Nam trên con đường hội nhập và phát triển.
- Phối hợp chặt chẽ ngoại giao Nhà nước với hoạt động đối ngoại của Đảng, của Quốc hội vµ ngoại giao nhân dân; giữa đối ngoại với quốc phòng-an ninh, tư tưởng; giữa đối thoại trung ương với đối thoại địa phương tạo thành sức mạnh tổng hợp nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ đối ngoại chung của đất nước.
- Tổ chức những sự kiện văn hóa trọng điểm ở các nước nhân chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước; Khuyến khích các hoạt động của các địa phương, các ngành trong việc quảng bá hình ảnh Việt Nam thông qua báo chí, truyền hình, internet…
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế tổ chức bộ máy hoạt động ngoại giao văn hóa, các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài; chú trọng đào tạo đội ngũ Tùy viên văn hóa; tiến hành chọn các Đại sứ văn hóa, nghệ thuật với mục đích quảng bá văn hóa Việt Nam.
- Mở rộng, khuyến khích xuất khẩu sách, báo, văn hoá phẩm; nâng công suất và thời lượng phát thanh, truyền hình ra nước ngoài; phát triển và nâng cao chất lượng các hoạt động thông tin tuyên truyền đối ngoại.
   - Xúc tiến xã hội hóa các hoạt động văn hóa, nghệ thuật; huy động các nguồn lực và sức sáng tạo trong xã hội để đầu tư xây dựng các công trình và thiết chế văn hóa, tổ chức các hoạt động văn hóa; khuyến khích các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, đoàn thể tham gia hoạt động văn hóa, nghệ thuật, quản lý và bảo vệ di tích ở trong nước và ngoài nước.
- Phân công trách nhiệm của các chủ thể trong tiến hành hoạt động ngoại giao văn hoá đối với các bộ, ngành như: Tuyên giáo; Ngoại giao; Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Tài chính… 
- Đề xuất với Bộ Tài chính tiếp tục xây dựng, hoàn thiện cơ chế tài chính cho các hoạt động văn hóa đối ngoại theo hướng vừa tăng thêm nguồn tài chính, vừa hoàn thiện cơ chế và định mức chi tiêu hợp lý cho các hoạt động văn hóa đối ngoại ở trong nước và ngoài nước.

- Thưa các đồng chí!!

Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho mọi hành động. Hoạt động đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta hiện tại cũng như tương lai tiếp tục xuất phát từ nền tảng tư tưởng đó. Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quan trọng tạo nên thành công trong thực hiện Nghị quyết của Đảng về các hoạt động trong lĩnh vực ngoại giao nói chung, trong đó tiếp tục được phát huy thế mạnh trong ngoại giao văn hóa nói rêng, để ngoại giao văn hoá thực sự trở thành một trong 3 trụ cột của Ngoại giao Việt Nam và góp phần khẳng định văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, tạo nên động lực mới, thúc đẩy toàn Đảng, toàn quân ta phấn đấu thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.

Xin trân trọng cảm ơn các đồng chí. Kính chúc sức khoẻ các đồng chí đại biểu. Chúc hội nghị Ngoại giao lần thứ 26 thành công tốt đẹp./.


_________________
Tài liệu tham khảo
(1) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006). NXB CTQG, Hà Nội, tr112, 213, 214.
(2)Văn kiện Hội nghị TW5 (khóa VIII), tr 56
(3)Từ điển Bách khoa Việt Nam-NXB Từ điển Bách khoa-Hà Nội 2002.
(4) Hữu Ngọc “Đối thoại liên văn hóa giữa Việt Nam và phương Tây”.
(5) Hồ Chí Minh toàn tập (tập 3), NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr. 431.

 
Quay lại Đầu trang In trang Gửi mail

Bản quyền của Vụ Thông Tin Báo Chí - Bộ Ngoại Giao
© Copyright by Press and Information Department - Vietnam Ministry of Foreign Affairs
Email: Banbientap@mofa.gov.vn 
Hiển thị tốt nhất với Internet Explorer. Best viewed with Internet Explorer