Công cụ làm việc cá nhân

    Tìm kiếm

    


Nền kinh tế Việt Nam


Bản đồ Việt Nam

A. Vài nét về Việt Nam:

  • Vị trí địa lý: Nằm ở phía đông trên bán đảo Đông Dương thuộc khu vực Đông Nam Á, đông và đông nam giáp Biển Đông và Thái Bình Dương, phía bắc giáp với Trung Quốc, phía tây giáp Lào và tây nam giáp Campuchia.
  • Diện tích: 331.690 km2
  • Dân số:  83.535.576 người (tính đến 2005)
  • Ngôn ngữ: Tiếng Việt
  • Đơn vị tiền tệ: Đồng (VND)

 

Hồ Hoàn Kiếm ở thủ đô Hà Nội

Vịnh Hạ Long

 

B. Nền kinh tế Việt Nam:

Kinh tế Việt Nam thời gian trước vốn là một nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, đông dân và chậm phát triển, đã từng phải trải qua những cuộc chiến tranh liên tiếp kéo dài. Kể từ năm 1986, Việt Nam thực hiện chính sách đổi mới, mở cửa, xóa bỏ bao cấp và từng bước chuyển dịch sang nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế dần thoát khỏi khủng hoảng và đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

 

Chợ Bến Thành ở TPHCM

Tăng trưởng GDP: Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng 9% hàng năm từ 1993 đến 1997. Năm 1998, tăng trưởng GDP giảm xuống 4% do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế châu Á năm 1997, sau đó lại tăng lên đến 4,8% năm 1999. Trong những năm 2000-2003, tăng trưởng GDP tăng từ 6% đến 7% trong khi tình hình kinh tế thế giới đang suy thoái. Năm 2004, mức tăng GDP là 7,7% và năm 2005 là 8,4%, trong đó khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản tăng 4%, khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 11% và khu vực dịch vụ tăng 8%.  Nền kinh tế Việt Nam đang diễn ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế một cách rõ rệt, khu vực nông nghiệp đã giảm từ 21,7% năm 2004 xuống 19% năm 2005 trong khi khu vực công nghiệp và dịch vụ tăng từ 40,1% năm 2004 lên 41% và khu vực dịch vụ tăng từ 38,2% lên 39%.

 

Sông Cửu Long

Đầu tư: Từ năm 2000, tổng vốn đầu tư liên tục tăng theo các năm và đặc biệt đạt mức tăng cao trong năm 2005, với khoảng 18 - 19 tỷ USD, tăng 18% so với năm 2004 và tương đương 36,5% GDP. Cơ cấu huy động vốn đầu tư gồm vốn từ ngân sách nhà nước và có nguồn gốc ngân sách chiếm khoảng 21,8% tổng vốn đầu tư xã hội, vốn tín dụng nhà nước chiếm khoảng 10,2%, tổng đầu tư của các doanh nghiệp quốc doanh chiếm 19,8%, vốn đầu tư của khu vực tư nhân chiếm 28,8% và còn lại là vốn đầu tư nước ngoài.  

Việc làm: Năm 2005 có 1,6 triệu việc làm mới được tạo ra, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng thu hút trên 448.000 nhân công, đưa tổng số lao động trong khu vực này lên 10,9 triệu, khu vực nông lâm ngư nghiệp tạo mới 104.000 việc làm và khu vực dịch vụ là 748.000. Tổng lao động trong khu vực dịch vụ ước tính khoảng 10,9 triệu. 

 

Ruộng lúa ở An Giang

Thương mại: Năm 2005, xuất khẩu đạt 32,23 tỉ USD, tăng 21,6 % so với 2004 và giá trị nhập khẩu là 36,88 tỉ USD, tăng 15,4% so với 2004. Thâm hụt thương mại 4,65 tỉ USD (giảm hơn so với mức thâm hụt 5,45 tỷ USD năm 2004).

Các mặt hàng xuất khẩu chính gồm dầu thô (23%), hàng dệt may (15%), giày dép (9,3%), hải sản (8,5%), thiết bị điện tử (4,5%), gạo (4,3%), cao su (2,4%), cà phê (2,2%). Các mặt hàng nhập khẩu chính gồm: máy móc, thiết bị (14,2%), xăng dầu (13,5%), thép (8%), vải (6,5%), nguyên phụ liệu dệt may da (6,3%), điện tử máy tính (4,6%), phân bón (1,8%).

Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam gồm có Hoa Kỳ (20%), Nhật Bản (14%), Trung Quốc (9%), Australia (7%), Singapore (5%), Đài Bắc thuộc Trung Quốc (4%), Đức (4%), Anh (4%), Pháp (2%), Hà Lan (2%), và các nước khác (29%). Thị trường nhập khẩu chính là Trung Quốc (13,7%), Đài Bắc thuộc Trung Quốc (11,3%), Hàn Quốc (10,8%), Nhật Bản (10,5%), Singapore (10,5%), Thái Lan (6,2%), Hồng Kong (4%).

 

Giàn khoan dầu mỏ Bạch Hổ (Bà Rịa - Vũng Tàu)

Cán cân thanh toán: Mặc dù thâm hụt thương mại, nhưng tài khoản vốn lại đạt mức thặng dư cao và giải ngân đầu tư trực tiếp nước ngoài ước đạt 2 tỷ USD năm 2005. Do đó, cán cân thanh toán ước đạt một mức thặng dư khoảng 1 tỷ USD năm 2005.

Nợ nước ngoài: Tính đến cuối năm 2005, tổng nợ nước ngoài là 16,7 tỷ USD tương đương 35,5% GDP, cao hơn năm 2004 là 10,4%. Bộ Tài chính dự kiến năm 2006 là 34%.  Nợ nước ngoài của Chính phủ ổn định theo xu hướng giảm dần các khoản nợ mới trong khi nợ thương mại của khu vực doanh nghiệp tăng lên. Năm 2005, việc trả nợ chiếm 5,5% xuất khầu; trả nợ của Chính phủ chiếm 9,1% tổng ngân sách năm 2005.

Tỷ giá hối đoái: Trong bốn tháng đầu năm 2005, VND chỉ mất giá 0,2% so với USD. Trong tương lai gần, tiền VND dự tính sẽ chỉ mất giá khoảng 2% so với USD do cán cân thanh toán của Việt Nam tiếp tục thặng dư; lãi suất gửi tiền VND ở thị trường trong nước luôn cao hơn lãi suất gửi USD; chỉ số giá tiêu dùng có xu hướng giảm và USD tiếp tục giảm sức mạnh so với các ngoại tệ khác do mức tăng thâm hụt ngân sách và cán cân thương mại của Hoa Kỳ. 

Mỏ than Hà Tu (Quảng Ninh)

Chính sách tiền tệ và lạm phát: Trong năm 2005, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tiếp tục thực hiện chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi, chú ý đến việc điều tiết mức tăng giá cả và hỗ trợ sự phát triển kinh tế. Tỷ lệ lãi suất năm 2005 tăng nhẹ mặc dù lạm phát giảm.  Chính sách tiền tệ năm 2005 góp phần quan trọng vào việc bình ổn lạm phát ở tầm vĩ mô và thúc đẩy phát triển kinh tế. Tỷ giá hối đoái ổn định và mức tăng lãi suất tiền VND giúp cho Ngân hàng Nhà nước mua được ngoại tệ làm tăng lượng dự trữ ngoại hối và do đó giúp ổn định thị trường tỷ giá hối đoái. Chỉ số giá tiêu dùng năm 2005 ước tính tăng khoảng 6,5%.

Triển vọng trung hạn: Nhiệm vụ chính mà các nhà lãnh đạo Việt Nam đặt ra trong năm năm tới là tiếp tục đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, giảm dần tình trạng kém phát triển và từng bước đạt mục tiêu thiên niên kỷ toàn cầu. Đến năm 2010, Việt Nam quyết tâm tăng GDP gấp 2,1 lần so với năm 2000, tạo thêm 8 triệu việc làm mới và giảm tỷ lệ thất nghiệp khu vực đô thị xuống dưới 5%, đẩy mạnh giáo dục để nâng số lượng lao động có trình độ lên 40% tổng lực lượng lao động và giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 15-16%.

Để thực hiện được kế hoạch phát triển kinh tế, Việt Nam đang tiến hành một loạt các cải cách cơ cấu kinh tế và các biện pháp để phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn, công nghiệp và dịch vụ. 

Nguồn: http://en.wikipedia.org/

http://www.apec.org/content/apec/member_economies/economy_reports.html

(T.Trinh, Phòng Chính trị Kinh tế đối ngoại, ngày 30-7-2006)

 

Tạo bởi thanhdm
Cập nhật 13-10-2006